Chương 10: Che Chở Giữa Cơn Giông
Mệnh lệnh tàn độc của Ký Bửu vừa dứt, hai tên lính tập mắt đằng đằng sát khí liền xốc mũi súng bước tràn tới, kéo theo hai gã phu vác búa tạ hung hăng rảo bước về phía chòi lá.
“Dỡ sạch cho qua! Coi ai dám cản!”
Tiếng Ký Bửu rít lên chói tai giữa trưa nắng gắt. Đám phu vung búa sắt phang mạnh xuống bờ rào dâm bụt cằn cỗi. Rắc một tiếng khô khốc, mấy nhánh rào cắm tạm xiêu vẹo gãy vụn, đất cát văng tung tóe. Chưa dừng lại ở đó, một gã phu xông thẳng tới chái hiên, vung lưỡi búa giật mạnh phên che mưa đan bằng lá dừa nước đã mục nát. Mảng vách rách toạc đổ ụp xuống, kéo theo mấy thanh mè tre kêu răng rắc.
Bà Lài co rúm lại giữa làn bụi lá mù mịt. Cảnh tượng hung bạo ập đến quá nhanh khiến trí óc già nua vốn lẫn lộn của bà hoảng loạn cùng cực. Bà ngã quỵ xuống nền đất nện, hai bàn tay khẳng khiu ôm chặt lấy đầu, miệng thét lên kinh hãi “Trời phật ơi! Đừng đập… đừng đuổi tui mà… Chú thợ ơi, cứu tui với!”
Tiếng khóc thét thảng thốt như mũi dao nhọn đâm thẳng vào lồng ngực ông Nhâm Vĩnh Khiêm. Nhìn dáng hình côi cút, run rẩy của người thương đang ngập chìm dưới những mảnh lá rách và bụi đất, người thợ già chín mươi chín tuổi chẳng còn nghĩ ngợi được gì đến thân xác gần trăm năm dâu bể của mình. Mắt ông quặn lại, khớp gối già nua nhức nhối bỗng chốc như bốc hỏa. Quẳng phăng chiếc gậy trúc mộc trên tay, ông dồn hết chút sức tàn nơi hai cẳng chân lẩy bẩy, lao vụt tới mé hiên.
“Cô Lài! Có tôi đây!”
Gã phu phen bên trên hăng máu giật mạnh thanh đòn tay gỗ mù u chống mái. Khúc gỗ gãy đôi, rơi thẳng xuống đúng chỗ bà lão đang ôm đầu khóc lóc.
Không một giây chần chừ, ông Khiêm nhào tới, gập người ôm trọn lấy tấm thân gầy gò của bà Lài vào lòng. Tấm lưng còng khoác manh áo bà ba bạc phếch của ông trở thành tấm lá chắn chở che duy nhất.
“Bốp!”
Thanh gỗ gãy nặng trịch văng trúng bả vai trái của ông Khiêm. Cú va đập hung bạo giáng xuống khung xương già nua yếu ớt phát ra một tiếng trầm đục ghê người. Cơn đau thấu xương tủy xộc thẳng lên màng óc khiến mắt ông tối sầm lại. Khí huyết dội ngược lên cổ họng, ông Khiêm rên khẽ một tiếng rồi cả thân hình sụp xuống bãi bùn đất ngay bên cạnh bà Lài. Máu từ vết xước rách da vai rịn ra, thấm đỏ một mảng áo nâu sờn rách.
“Anh Khiêm! Anh Khiêm ơi!”
Bà Lài run lẩy bẩy, nhìn thấy máu đỏ và gương mặt trắng bệch của ông lão đang nằm chắn ngang người mình, bà òa khóc nức nở, đôi bàn tay nhăn nheo cuống cuồng níu chặt lấy cánh tay ram ráp dính đầy vệt vôi vữa.
Dưới bến sông, Sáu Thuyền trố mắt nhìn cảnh tượng hãi hùng, cổ họng anh nghẹn ứ rồi gầm lên như cọp gầm “Tụi bây giết ông già trăm tuổi rồi! Quân cướp cạn!”
Máu nóng trong người chàng trai chèo đò bốc lên ngùn ngụt. Sáu Thuyền vung mạnh chiếc dầm chèo gỗ sao, quạt một đường gió rít xé toạc không khí, gạt phăng tên phu cầm búa dạt sang một bên.
Chứng kiến ông lão đức độ, người thợ cả cả đời đắp hoa văn dựng cột mốc cho xứ sở bị đánh ngã gục để che chở cho một bà già góa bụa, ngọn lửa uất ức kìm nén bấy lâu trong lòng hơn bốn mươi người dân xóm phà lập tức bùng cháy dữ dội.
“Bà con ơi! Chúng nó đánh chết cụ Bảy rồi!” Tiếng thím Ba Đực thét lên rách họng, nước mắt ròng ròng trên gương mặt đẫy đà. Thím vớ ngay đòn gánh xông lên phía trước.
“Giữ đất! Đánh đuổi quân cướp bến!”
Hàng chục thợ hồ Tân Quy Đông tay lăm lăm bay sắt, cán cuốc cùng cánh đàn bà con nít tay cầm chèo, cầm gậy gộc ùa tới như triều dâng thác đổ. Vòng vây khép chặt lại trong chớp mắt. Ánh mắt phẫn nộ hừng hực của dân nghèo dồn ép bốn tên lính tập vào chân bờ rào. Mấy mũi súng trường run rẩy chĩa ra nhưng không ngăn nổi những bước chân giận dữ đang dấn tới.
Hai gã phu vác búa tạ run như cầy sấy, vội quẳng búa xuống đất lùi lũi thụt lùi “Tụi… tụi tui làm thuê làm mướn thôi, mấy chú mấy bác đừng đánh!”Bốn tên lính tập thấy dân làng sẵn sàng liều mạng bèn thụt lùi ra sau, báng súng đập lách cách vào nhau, mặt mày xám ngoét. Một tên thì thào với Ký Bửu “Thầy Ký ơi, dân đông quá, lại có máu đổ rồi, làm dữ nữa tụi nó dìm xuồng chết cả đám đó!”
Ký Bửu nhìn thấy ánh mắt căm hờn của Sáu Thuyền đang lăm lăm chiếc dầm gỗ sao bước tới gần, lại thấy vệt máu đỏ tươi trên vai áo ông Khiêm thì mặt mày biến sắc, hoảng hồn bạt vía. Biết đã gây đổ máu trước mặt cả xóm đông đúc, sợ quan Tỉnh trưởng truy xét tội làm càn,
Hắn lật đật thụt lùi, giẫm trúng mép bùn trượt chân suýt ngã nhào, chiếc batoong bịt bạc chới với giữa trời. Hắn nuốt nước miếng đánh ực, cố gân cái giọng run lẩy bẩy để vớt vát chút oai phong tàn tạ “Mấy… mấy người giỏi lắm! Dám bạo động chống người thi hành công vụ! Rút… rút lui mau!”
Đám lính tập và phu phen chỉ chờ có vậy, lập tức quay đầu tháo chạy thục mạng ra mé đò chợ Cây Da Dầu. Ký Bửu vừa chạy vừa ngoái cổ lại, nghiến răng rít qua kẽ môi béo nị “Chờ đó! Qua sẽ bẩm báo lên quan Tỉnh, xin lính tỉnh mang súng lớn xuống đây! Đúng ba ngày nữa, cái xóm Cái Rơm này với cái chòi mục này sẽ bị san phẳng ra tro! Coi cái thân già đó sống được mấy bữa!”
Bóng dáng nhếch nhác của đám sai nha vừa khuất sau rặng dừa nước, bà con xóm phà lập tức ùa lại quanh chòi lá.
“Cụ Bảy ơi! Cụ có sao hôn cụ Bảy?”
Sáu Thuyền quẳng mái dầm, quỳ sụp xuống bên cạnh ông Khiêm. Đôi vai rắn chắc của anh run lên bần bật khi thấy người thợ già th* d*c từng cơn nhọc nhằn, bờ vai trái sưng vù, bầm tím một mảng lớn dưới vệt máu khô.
“Mau, mấy chú thợ phụ tôi một tay bưng cánh cửa liếp làm cáng, khiêng cụ vô chỗ khô ráo!” Sáu Thuyền cuống quýt hô lớn.
Ba người thợ hồ trẻ tuổi cẩn thận nhấc cánh cửa gỗ còn nguyên vẹn, nhẹ nhàng nâng thân hình gầy guộc của ông Khiêm đặt lên. Dân làng kẻ đỡ chân, người nâng đầu, cẩn trọng cáng ông vào bên trong chiếc chõng tre của căn chòi cạnh bên – nơi ông vừa dọn sang tá túc hôm trước.
Thím Ba Đực vội vã chạy về nhà bưng sang một ơ đồng đựng than đước bén lửa và chai dầu mù u ngâm lá trầu không. Thím dùng nước ấm lau sạch vết bùn đất trên vai ông, vừa thoa dầu vừa xót xa rơi nước mắt “Trời đất ngó xuống mà coi, người ta gần trăm tuổi đầu rồi mà lũ ác nhơn nỡ lòng nào… May mà thanh đòn tay chỉ sượt qua bả vai chớ giáng trúng đầu thì mạng già đâu còn!”
Gió mé sông thổi vào hiên chòi lành lạnh. Mùi dầu trầu cay nồng quyện với khói than đước sưởi ấm gian phòng nhỏ đơn sơ. Dưới tác dụng của dầu xoa và bàn tay n*n b*p của bà con lối xóm, hơi thở của ông Khiêm dần dà đều lại, bớt đi vẻ dồn dập đứt quãng. Mí mắt nặng trĩu của ông từ từ mở ra.
Người đầu tiên hiện lên trước mắt ông là bà Lài.
Bà lão chín mươi lăm tuổi ngồi bệt dưới chân chõng tre, lưng còng rạp xuống, hai dòng lệ đục mờ chảy dài trên những nếp nhăn nheo hằn sâu nơi khóe mắt. Bà không còn ngơ ngác như lúc lên cơn lú lẫn, mà đôi mắt đong đầy nỗi đau đớn xót xa cùng cực. Đôi bàn tay khẳng khiu như nhánh củi khô của bà run rẩy vươn ra, ngập ngừng không dám chạm vào vết thương bầm tím trên vai ông, chỉ biết run run nắm lấy những ngón tay thô ráp của người thợ già.
“Vì tui… tại tui mà anh ra nông nỗi này… Tui làm khổ anh rồi Khiêm ơi…” Tiếng bà thều thào, nghẹn ứ nơi cuống họng, từng giọt nước mắt nóng hổi rớt xuống mu bàn tay ông.
Cơn đau buốt nơi bả vai dường như tan biến trước giọt nước mắt của người xưa. Nhìn thấy người thương bình yên vô sự, nét mặt ông Khiêm dãn ra, ánh mắt ánh lên vẻ kiên định lạ thường.
Ông khẽ trở mình, cố nén tiếng rên đau đớn, bàn tay chai sần dính bột đá mài siết chặt lấy những ngón tay gầy guộc, run rẩy của bà Lài. Cảm nhận hơi ấm thân thương sau bảy mươi sáu năm dâu bể trôi dạt, giọng ông trầm đục vang lên, dứt khoát và ấm sực “Đừng sợ… chừng nào Khiêm còn thở, không ai đuổi được cô Lài đi đâu hết!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
