Chương 7: Sợi Dây Gai Tẩm Dầu
Tiếng batoong bịt bạc nện chan chát dứt hẳn, để lại những vết hằn sâu hoắm trên thân cột gỗ mù u. Ký Bửu khạc một bãi nước bọt xuống mô đất trước sân, hậm hực vẫy tay ra hiệu cho bốn tên lính tập bồng súng quay gót. Đoàn người nghênh ngang rảo bước về phía bến đò chợ, tiếng ủng da cồm cộp gõ trên nền đất nện xa dần sau rặng dừa nước, nhưng nỗi khiếp hãi vẫn còn đông cứng trong từng hơi thở của người dân xóm Cái Rơm.
Thím Ba Đực ngồi thụp xuống vạt cỏ bên mé rạch, hai tay bưng kín mặt khóc ròng rã “Trời cao ngó xuống coi, mấy chục miệng ăn chốn này trông cả vô hai mươi bảy cái nóc nhà sàn với cái bến phà rách. Gánh bún nước lèo của tui ngày bán đôi ba chục tô nuôi bầy con dại, dỡ nhà đi rồi biết dạt xứ nào mà sống qua ngày hả trời!”
Mấy người đàn bà xóm thợ hồ cũng sụt sùi, tiếng trẻ con thút thít nép sau lưng mẹ. Trong gian chòi lá vừa rung bần bật vì đòn hăm dọa, bà Lài ngồi co ro trong xó tối, hai bờ vai gầy nhom run lên từng chặp. Đôi bàn tay khẳng khiu của bà cấu chặt vào vạt áo vá vai, ánh mắt đục mờ ngó trân trân ra ngoài bậu cửa, môi mấp máy không thốt nên lời.
Ông Khiêm bước chậm rãi vào chòi, khẽ ngồi xuống bên mép chõng tre. Đôi bàn tay thô ráp chai sần vì vôi vữa nhẹ nhàng phủ lên mu bàn tay lạnh ngắt của bà Lài. Cảm giác ấm áp quen thuộc phả sang khiến bà khẽ giật mình, rồi dần dần thả lỏng những ngón tay khô gầy.
“Đừng sợ nghen cô Lài. Có tôi ở đây rồi, trời sập cũng có người chống, hổng ai dỡ được cái chòi này đâu mà lo.”
Tiếng ông trầm ấm, vững chãi như bờ đất nện ngàn đời cản sóng. Bà Lài chớp chớp hàng mi bạc, ngơ ngác nhìn gương mặt hằn sâu vết chân chim của ông, rồi gật đầu một cái thật khẽ, nép sát vào góc vách lá tìm chút bình yên.
Trấn an người xưa xong xuôi, ông Khiêm bước ra hiên. Nhìn bà con lối xóm mặt mày xám ngoét, ông cất giọng sang sảng giữa sân “Bà con đừng hoang mang! Đất bến sông này cha ông mình khai hoang lập ấp bao đời, đâu phải muốn bẻ cong là bẻ, muốn đuổi là đuổi. Muốn trị kẻ gian xảo, phải lấy thước tấc rành rọt mà nói chuyện.”
Ông Khiêm quay sang căn chòi tạm của mình, mang ra một chiếc tráp gỗ mun phong sương. Mở nắp tráp, bên trong không có vàng bạc châu báu, chỉ có một cuộn dây gai nâu bóng và một quả dọi bằng chì xám xịt nặng trịch. Cuộn dây gai này được se từ sợi vỏ gai già, luộc qua nước lá bàng rồi ngâm tẩm dầu rái ròng rã mấy mươi năm, dẫu phơi nắng dầm mưa ngàn bận cũng không hề co rút hay dãn nở.
Ông Khiêm vẫy tay gọi “Sáu Thuyền! Lại đây phụ lão già này một tay.”
Sáu Thuyền quệt mồ hôi trán, vội bước tới “Dạ, ông Bác biểu con làm chi, con làm nấy!”
“Cầm cọc tre này, theo lời dặn của tôi mà cắm. Phải đo ngấn nước ròng cho trúng, gióng từ tim đất cũ mới bóc trần được cái bụng dạ quanh co của tụi nó.”
Hai người một già một trẻ bắt đầu rảo bước dọc triền đất ven rạch Cái Rơm. Con nước ròng ban trưa đang rút sát đáy, để lộ ra những vạt bùn non xam xám dập dềnh bèo bọt và rễ bần chỉa ngược. Ông Khiêm lần từng bước chân cẩn trọng, đôi mắt tinh tường rà soát từng mô đất, từng lùm cỏ mực quen thuộc. Đến trước cội đa cổ thụ nơi chợ Cây Da Dầu – cái mốc tự nhiên đã sừng sững hơn trăm năm qua bao biến thiên dâu bể, ông dừng lại.“Sáu, con buộc mối dây gai này vào rễ phụ hướng chính đông của cội đa. Siết ba nút lèo cho thật chặt, không để lơi một phân nào nghen!”
“Dạ con nhớ rồi!” Sáu Thuyền thoăn thoắt trèo lên bạnh rễ gồ ghề, luồn sợi dây gai tẩm dầu qua thân cây sần sùi đen thẫm rồi thắt chặt.
Ông Khiêm cầm đầu dây còn lại, thả quả dọi chì buông thõng xuống mặt nước ròng để lấy mực thăng bằng. Bàn tay già nua cẩn trọng nhả từng sải dây, mắt ông nheo lại ngắm theo đường thẳng tắp xuyên qua triền sông. Sợi dây gai được ghì chặt căng tắp, rung lên khe khẽ trong ngọn gió bấc rạch Cái Rơm.
Bà con xóm phà tò mò lục tục kéo lại xem. Những thợ hồ luống tuổi nhìn cách ông già ngắm quả dọi và nắn dây đều gật gù thán phục. Đó là phép trắc địa bằng mắt và dây mực của bách nghệ dân gian – thứ tri thức tích lũy từ mồ hôi, từ ngàn mùa nước nổi nước ròng mà không một máy ngắm Tây học nào có thể đo lường hết được linh hồn sông nước.
Khi sợi dây gai gióng thẳng một đường từ cội đa qua doi cát bồi ngoài mé sông Tiền, sự thật phơi bày rõ mồn một trước mắt mọi người. Hàng cọc tiêu sơn đỏ chót do Ký Bửu cắm ban sáng nằm chệch hẳn ra ngoài đường dây chuẩn.
Ông Khiêm dùng một cành tre vạch một đường thẳng tắp trên mặt bùn non theo bóng sợi dây rọi xuống, rồi chỉ tay về phía dãy cọc tiêu đỏ “Bà con coi đó! Đường tim lộ danh chính ngôn thuận chạy dọc theo mé nước bãi bồi, vừa ngay ngắn vừa không phạm vô tấc đất nào của xóm mình. Đằng này, cọc tiêu của thầy Ký lại ngoằn ngoèo bẻ quẹo vô đất thịt hơn năm trượng! Năm trượng đất này nuốt sạch hai mươi bảy cái nhà sàn, dồn người nghèo vô đường cùng để chừa không nguyên cái doi đất cát bằng phẳng ngoài kia.”
Sáu Thuyền trợn tròn mắt, đấm mạnh tay vào đùi đánh bốp “Trời đất ơi! Té ra tụi nó tính cướp bãi cát để bán cho mấy chành lúa, kho hàng của mấy ông chủ Chợ Lớn! Quỷ quyệt tới mức đó là cùng!”
Thím Ba Đực run rẩy cầm một cây cọc tiêu đỏ nhổ bật lên, vừa giận vừa mừng “Rõ ràng rành rành rồi! Cọc cắm lén lút ăn gian, mượn cớ mở lộ để cướp đất kiếm tiền lót tay!”
Bà con trong xóm nhao nhao phẫn nộ, những tiếng chửi rủa đám nha lại đục khoét vang lên râm ran khắp mé bến phà. Ai nấy đều nhìn ông Khiêm với ánh mắt kính phục khôn xiết. Nhưng trong lòng người thợ già, nỗi âu lo vẫn chưa hề vơi bớt. Ông biết rõ, chỉ với sợi dây gai và phép đo dân gian này, bọn quan lại Sở Công chính sẽ vin cớ không có bằng chứng pháp lý trên văn tự để bác bỏ. Muốn bẻ gãy âm mưu thâm độc của chúng, phải có một vật chứng thép, một cột mốc ranh giới xưa có khắc ký hiệu của triều đình và nghề thợ.
Gió sông thổi lồng lộng làm bay bay chòm râu bạc như cước của ông lão trăm tuổi.
Ông Khiêm chầm chậm thu từng vòng dây dọi chì cuốn vào lòng bàn tay chai sần, ánh mắt hướng về phía mũi vàm nơi lớp bùn lầy đang bồi lắng sâu thẳm dưới chân nước ròng. Giọng ông trầm đục nhưng đanh thép truyền qua từng ngọn gió bấc, vang đến tai Sáu Thuyền và bà con xóm Cái Rơm “Năm Canh Ngọ 1870, chính tay ông già này đã đúc Cột mốc số Ba cắm sâu xuống đất sét xanh ở vàm rạch này, chân mốc ở đâu, công lý ở đó!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
