Chương 6: Cờ Cắm Đầu Bến
Hơi thở của bà Lài dần dà đều đặn, hòa cùng tiếng gió rù rì qua kẽ lá dừa nước. Ông Khiêm khẽ rút hai bàn tay già nua đang ấp ủ lấy bàn chân người xưa, với chiếc mền vải thô đắp ngang ngực cho bà rồi mới khom lưng gượng đứng dậy. Khớp gối ông nhức buốt sau một đêm lội sình, kêu khục khặc theo từng bước chân lần khân về mé cửa. Mảnh giấy điệp phong sương đã ráo nước được ông nâng niu gấp lại làm tư, cất kỹ vào túi trong vạt áo bà ba cho kín gió.
Bình minh vừa hé rạng phía bên kia vàm Sa Giang. Mặt sông tráng một lớp sương mỏng như khói lam, rặng lục bình tím ngát dập dềnh xuôi theo con nước lớn đang chớm tràn mé bờ. Đêm giông bão kinh hoàng đã lùi lại sau lưng, xóm phà Cái Rơm bắt đầu thức giấc với mùi củi đước nhen lửa nấu nước sôi pha trà sớm. Nhưng sự yên ả hiếm hoi ấy chưa kịp sưởi ấm lòng người thì đầu xóm phà rúng động bởi tiếng chân giày da nện lạo xạo trên nền đất sỏi.
Tiếng chó sủa ran từ bến đò dọc lan dần vô xóm. Kế đó là giọng quát tháo the thé làm rách toạc cả buổi sớm mai "Đứng né hết ra coi! Đám dân đen lôi thôi lếch thếch này hổng biết giữ trật tự gì ráo!"
Ông Khiêm nheo đôi mắt đục mờ nhìn qua liếp cửa. Phía đầu đường mòn, một đoàn người đang rầm rập kéo tới. Đi đầu là thầy Ký Bửu, thân hình béo tốt nung núc trong bộ âu phục veste lụa màu mỡ gà láng mướt, chiếc bụng phệ nhô ra phía trước, tay lăm lăm cây batoong bịt bạc sáng lóa. Theo sau gã là bốn tên lính tập bồng súng trường dài ngoẵng và hai tên hương hào mặc áo the thâm, nách kẹp từng bó cọc tiêu vót nhọn, đầu cọc sơn màu đỏ chót như máu tươi.
Mấy đứa nhỏ xóm phà đang chơi ngoài ngõ sợ hãi nép sau gốc dừa. Thím Ba Đực đang gánh đôi thùng nước rửa chén vội buông đòn gánh cái rầm, mặt mày tái mét chạy dồn lại trước sân chòi của bà Lài. Cả hai mươi bảy nóc nhà sàn nghèo xơ xác nhốn nháo, bà con xúm xít túa ra mé rạch, mắt ai nấy đều lộ vẻ âu lo thắt ruột.
Đến khoảng đất trống trước dãy chòi, Ký Bửu dừng bước, đưa chiếc khăn tay viền hoa lên chấm mồ hôi trán, đoạn trừng mắt nhìn quanh. Gã phất mạnh cây batoong, cất giọng trịch thượng, the thé vang vọng khắp khúc sông "Mấy người nghe cho rõ đây! Lệnh trên Sở Công chính tỉnh Sa Đéc sức xuống bữa nay, bắt đầu cuộc mở bến giao thương mới cho tàu đò lục tỉnh ghé bến bốc dỡ hàng. Toàn bộ dải đất từ mí mép lộ cái kéo thẳng xuống vàm Cái Rơm này đều nằm trong diện mở bến mới của nhà nước. Kể từ bữa nay, toàn bộ hai mươi bảy nóc nhà sàn rách nát này, cùng cái túp lều mụ còng kia, phải triệt hạ dời đi hết trong hạn mười ngày! Đứa nào chần chừ, chống cự, lính tập xúc về bót giam ráng chịu!"
Lời vừa dứt, hai tên hương hào lập tức cắm mạnh những cây cọc tiêu sơn đỏ chót xuống nền đất thịt ven bờ rạch. Những chiếc cờ đuôi nheo cắm đầu cọc bay phần phật trong gió sớm, chĩa thẳng hàng vào tận mép hiên nhà của dân nghèo.
Tiếng kêu khóc, than vãn bùng lên tức tưởi. Thím Ba Đực run rẩy chắp hai tay trước ngực, giọng mếu máo "Trời đất ngó xuống mà coi! Xóm nghèo này tụi tui bám bến bám đò từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới giờ, dời đi thì biết đâm đầu vô đâu mà sống? Mở bến sao lại lấn vô tận giường nằm của bà con vậy thầy Ký ơi?"
Ký Bửu nhếch mép cười khinh khỉnh "Đất của nhà nước chớ đất của ông cố nội mấy người để lại hay sao mà đòi hỏi? Mở bến lớn đón tàu Tây, tàu Chợ Lớn thì phải nới lộ cho xe tải, xe kéo chạy. Có mười ngày thôi, liệu đường mà cuốn gói!"
"Mười ngày cái con khỉ mốc!"
Một tiếng quát vang rền như sấm cắt ngang lời gã. Sáu Thuyền từ dưới bến đò dọc vừa chạy thốc lên, hai mắt đỏ ngầu, vạt áo bà ba đen ướt đẫm mồ hôi. Anh nhảy bổ tới chắn ngang trước mặt Ký Bửu, bắp tay cuồn cuộn gồng lên tức giận "Bến phà này có từ thời mở cõi, bao đời nay dân xóm Cái Rơm chia nhau cắm cọc giữ mé lở, chưa từng nghe ai nói đất này là lộ xe! Mấy người đừng có mượn danh quan trên để ép bách người nghèo tụi tui!"
Ký Bửu lùi lại một bước, mặt xám ngoét vì hoảng trước thân hình vạm vỡ của chàng phu chèo đò. Nhưng gã lập tức lấy lại vẻ hống hách, giơ cây batoong bịt bạc lên chỉ thẳng vào mặt anh "Thằng chèo đò này muốn làm loạn hả? Lính đâu! Bắt trói nó lại cho qua!"Hai tên lính tập lập tức bước tới, súng trường hạ nòng chĩa thẳng lưỡi lê sáng loáng vào ngực Sáu Thuyền. Tiếng lên đạn "rắc rắc" khô khốc vang lên làm lũ trẻ con khóc thét, bà con hàng xóm khiếp hãi giạt lùi. Sáu Thuyền siết chặt nắm đấm, lồng ngực phập phồng dữ dội, sẵn sàng liều mạng.
"Khoan đã mấy chú."
Một thanh âm trầm đục, từ tốn nhưng đanh thép như tiếng đập búa trên đe sắt cất lên từ phía thềm chòi lá.
Mọi cặp mắt đều dồn về ngạch cửa. Ông Nhâm Vĩnh Khiêm tay chống cây gậy tre đực, lưng giữ ngay ngắn dù bước chân chậm chạp, từ từ bước xuống sân đất. Chòm râu bạc dài chấm ngực khẽ rung rinh theo từng nhịp thở, nhưng đôi mắt già nua của người thợ đúc đá mài tròn chín mươi chín tuổi lại sáng quắc một cách kỳ lạ.
Sáu Thuyền vội nghiêng người đỡ lấy một bên cánh tay ông, giọng nghẹn lại "Ông Bác… coi chừng gậy gộc của tụi nó làm trầy da tróc vảy."
Ông Khiêm vỗ nhẹ lên mu bàn tay gân guốc của chàng trai trẻ, ra hiệu bình tâm. Ông dừng chân ngay trước mũi súng của tên lính tập, ánh mắt không hề chớp lấy một cái, điềm đạm ngước nhìn Ký Bửu "Thầy Ký làm việc cho quan tỉnh, ăn chén cơm của triều đình và nhà nước bảo hộ, ắt phải hiểu phép tắc đo đạc bờ cõi. Bến phà Sa Giang này, từ mé nước tới triền đất sét xanh ngàn đời nay đều có ranh giới tự nhiên theo dòng chảy. Cớ sao thầy lại cho cắm cọc tiêu lấn sâu vô bờ xóm này dữ vậy?"
Ký Bửu liếc nhìn ông lão tóc bạc phơ như mây trời, bụng nghĩ thầm đây chỉ là một lão thợ hồ gần đất xa trời, liền cười khẩy, mở tấm bản đồ bằng giấy can dày cộp vẽ mực xanh mực đỏ cầm trên tay ra phẩy phẩy "Lão già này ở đâu chui ra xen vô chuyện công sai? Đây là bản đồ trắc địa của quan Tây Sở Công chính vẽ rành rành bằng máy ngắm, đường lộ thẳng tắp theo quy chuẩn văn minh chớ hổng phải đo bằng mắt ếch của mấy ông thợ miệt vườn đâu nghen!"
Ông Khiêm chẳng hề nao núng. Đôi mắt tinh tường từng coi hàng trăm thế đất, nắn hàng ngàn tấc đá hoa văn dọc miệt sông Tiền lướt thật nhanh qua những nét vẽ trên tờ giấy can. Rồi ông quay nhìn dãy cọc tiêu đỏ rực vừa cắm lún sâu vào lớp đất phù sa màu xám tro.
Khoảng cách từ mé nước ròng tới hàng cọc tiêu mới cắm hẹp một cách kỳ quái. Theo dáng đất thoai thoải và vị trí cội đa cổ thụ nơi chợ Cây Da Dầu gióng qua, đường tim lộ lẽ ra phải chạy sát triền cát bồi ngoài bãi trống, nơi ghe thuyền chở cát hay ghé đỗ. Đằng này, đường cọc tiêu lại bị bẻ cong một góc bất thường, lượn sâu vào đất thịt dân cư hơn năm trượng, nuốt trọn toàn bộ nền nhà của xóm Cái Rơm và chừa ra một khoảng đất bồi mênh mông sát mép nước cho ai đó.
Một nụ cười nhạt thoáng nở trên khóe môi nhăn nheo của ông Khiêm. Ông chỉ cây gậy tre đực vào chiếc cọc đỏ ngay sát vách chòi lá của bà Lài, giọng nói vang lên rành rọt giữa sự im phăng phắc của dân làng "Máy ngắm của người Tây hay lòng dạ của người đo bị lệch? Đường bờ lộ này nắn cong vào trong, chừa nguyên cái bãi bồi ven sông Tiền phẳng phiu kia ra ngoài tim đường, là để mở bến công chính hay là để dựng kho hàng bách hóa cho mấy ông chủ Chợ Lớn vậy thầy Ký?"
Ký Bửu giật bắn người, tấm bản đồ trên tay khẽ run lên. Bị đâm trúng tim đen âm mưu ngầm cấu kết trục lợi, gã thẹn quá hóa giận, mặt đỏ tía tai như gà chọi. Gã trợn trừng mắt, sấn tới trước gian chòi rách nát của bà Lài. Cây batoong bịt bạc trong tay gã vung lên, giộng mạnh chan chát vào chiếc cột nhà sàn bằng gỗ mù u đã mòn vẹt.
Căn chòi lá rung lên bần bật, bụi rơm rơi lả tả xuống sân. Ký Bửu cười gằn, trợn mắt gườm gườm nhìn vào mặt ông Khiêm và bà con lối xóm, buông lời đe dọa lạnh tanh "Mấy cái cột mục này không dỡ thì mơi mốt xe lu cán nát thành tro!"
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
