Chương 5: Kỷ Vật Thời Hoa Niên

Mé đất phù sa nứt toác rồi đổ ụp xuống lòng rạch Cái Rơm đánh “ùm”, kéo theo những cuộn bọt nước đỏ ngầu sôi réo. Đất dưới chân bà Lài hẫng đi trong chớp mắt, bóng hình gầy guộc chao đảo sắp sửa chìm nghỉm vào dòng xoáy dữ dằn.

"Thằng Sáu! Quăng dây ghì gốc gừa mau!"

Tiếng ông Khiêm thét lên lạc cả giọng giữa cơn mưa dông quất rát mặt. Dù hai khớp gối nhức nhối như có mũi kim đâm sau chặng lội bùn sâu ngang đầu gối, đầu óc người thợ già chín mươi chín tuổi vẫn tỉnh táo phi thường trước lằn ranh sinh tử. Nghe tiếng hô rổn rảng xé gió, Sáu Thuyền lập tức hiểu ý. Anh giật mạnh cuộn dây dầm bện bằng xơ dừa dẻo quánh vắt ngang hông, thoăn thoắt quấn ba vòng quanh chùm rễ cây gừa cổ thụ đang bám chặt nơi doi đất cao, rồi thắt nút số tám chắc nịch.

"Chắc rồi ông Bác ơi!"

"Nhào xuống bọc mé sau lưng bà, đừng cho dòng xoáy cuốn ra vàm!"

Ông Khiêm ghì chặt cây gậy tre đực xuống nền đất sét, một tay nắm lấy thân dây dầm trợ lực, rọi thẳng luồng sáng vàng vọt của cây đèn bão xuống mé nước. Sáu Thuyền dậm chân nhảy phóc xuống dòng phù sa đục ngầu đang ngập ngang ngực. Nước xoáy quẩn quanh thắt lưng, anh nghiến răng bặm môi rẽ sóng, sải cánh tay vạm vỡ chộp lấy vạt áo bà ba ướt sũng của bà Lài ngay khoảnh khắc mảng đất cuối cùng sụp trôi.

"Bắt được bà Dì rồi!"

Sáu Thuyền gầm lên một tiếng, luồn hai cánh tay chắc nịch qua nách bà lão, gồng mình nhấc bổng thân hình nhẹ bẫng như tàu lá héo khỏi miệng hố sạt lở. Ông Khiêm trên bờ nghiến chặt hàm răng mòn vẹt, dồn hết sức tàn của đôi cánh tay từng nhào hàng ngàn cối vữa để kéo căng đầu dây dầm phụ lực cho anh thợ đò.

Mấy thanh niên xóm phà cầm đuốc vừa kịp ùa tới mé gừa. Mọi người đồng lòng quăng sào, níu tay Sáu Thuyền kéo giật ngược lên triền dốc. Khi lưng bà Lài chạm vào thảm cỏ gấu an toàn trên bờ, cả một vạt đất nơi mé rạch phía sau rụng tơi bời, chìm sâu vào lòng sông Sa Giang mịt mùng.

"Đội ơn trời đất… Cụ Bà còn thở!"

Thím Ba Đực lội nước bì bõm chạy tới, vừa khóc vừa quấn chiếc khăn rằn khô lên đầu bà lão. Ông Khiêm run rẩy quỳ sụp xuống bên cạnh, đưa bàn tay dính đầy bùn non kiểm tra hơi thở yếu ớt nơi cánh mũi người xưa. Nghe nhịp thở khò khè còn phập phồng, lồng ngực ông mới chịu buông một tiếng thở phào nghẹn ngào.

"Đưa bà về chòi mau, kẻo ngấm nước lạnh độc địa!"

Sáu Thuyền cõng bà Lài chạy băng qua những vũng nước ngập trắng lối mòn. Dân xóm phà che chắn ngọn đuốc dầu rái, mở đường đưa bà lão về lại gian chòi lá ven rạch.

Trong chòi, thím Ba Đực nhanh tay châm lửa đốt bùng mấy khúc củi đước khô trong chiếc hỏa lò đất nung, mang lại hơi ấm xua đi cái ẩm lạnh thấu xương của đêm giông gió. Thím lục tìm bộ đồ bà ba vải ú cũ kỹ máng trên vách nứa, tỉ mẩn lau khô người rồi thay cho bà Lài, đoạn lấy chai dầu phong bì xoa khắp lồng ngực và hai bên thái dương đang nóng bừng vì cơn sốt.

Ông Khiêm ngồi bệt dưới nền đất nện bên mép chõng tre. Đôi chân già nua của ông cũng ướt sũng, nhưng ông chẳng hề màng tới bản thân. Đôi bàn tay thô ráp đầy vệt chai sạn cẩn thận nâng lấy bàn chân khẳng khiu, lạnh ngắt như ngâm dưới đáy sông của bà Lài. Ông vừa xoa dầu rái ấm nóng vào lòng bàn chân bà, vừa day nhẹ các huyệt đạo theo kinh nghiệm dân gian lưu truyền của cánh thợ hồ miệt sông nước. Từng tấc da thịt nhăn nheo, tái nhợt dần ấm sực trở lại dưới những ngón tay nhẫn nại của người thợ già.

Bà Lài nằm thiêm thiếp trên manh chiếu rách, hai hàng mi bạc nhắm nghiền, thỉnh thoảng giật mình co giúm vì dư âm của cơn hoảng loạn. Kỳ lạ thay, dẫu lúc ngập chìm giữa dòng nước xoáy hay khi được cõng chạy trong mưa bão, bàn tay trái của bà vẫn nắm chặt cứng thành nắm đấm, giấu kỹ trước lồng ngực như đang che chở vật báu cả đời."Cô Lài à… Tôi Khiêm nè cô. Yên ổn rồi, hổng còn nước cuốn nữa đâu nghen."

Tiếng ông Khiêm trầm đục, run run ghé sát bên tai bà dỗ dành. Như nghe được thanh âm quen thuộc từ cõi sâu thẳm của ký ức, năm ngón tay gầy guộc của bà lão khẽ buông lỏng ra từng chút một.

Từ lòng bàn tay nhăn nheo ấy rơi ra một vật nhỏ ướt mem.

Đó là mảnh giấy điệp phong sương ố vàng, mép giấy rách tơi bời vì ngấm nước mưa và bùn non, nhưng lớp mực son năm xưa vẫn ngoan cường đọng lại trên thớ giấy vỏ dướng thủ công. Ông Khiêm run rẩy cầm lấy kỷ vật, cẩn thận đặt lên mép chiếc đĩa sành hơ gần ngọn lửa bập bùng của chiếc hỏa lò. Từng giọt nước trên mặt giấy bốc hơi thành những sợi khói mỏng manh.

Dưới ánh lửa đỏ ấm áp, hàng chữ son thẳng thớm hiện dần ra trước đôi mắt già nua của người thợ đúc đá mài“Sa Giang con nước ròng rồi lớn,Đá mài dẫu mòn dạ chẳng phai.Hẹn ngày bến vắng đơm bông bạc,Trọn kiếp tơ duyên một mái chèo.”

Góc dưới mảnh giấy vẫn còn vẹn nguyên dòng lạc khoản viết vào mùa gió chướng năm Mậu Ngọ 1858: “Nhâm Vĩnh Khiêm trao Nguyễn Thị Lài bên vàm Sa Đéc”.

Khóe mắt đục mờ của ông Khiêm nhòa đi. Đúng là nét chữ thời trai trẻ hai mươi ba tuổi của chính tay ông nắn nót viết bên bờ sông Tiền ngày chuẩn bị đi phụ việc đúc cọc mốc cho quan nha. Suốt bảy mươi sáu năm lưu lạc trôi nổi, qua bao mùa binh lửa loạn lạc và kiếp sống góa bụa nghèo cùng, người con gái năm xưa vẫn ôm chặt mảnh giấy điệp vào lòng bàn tay như một điểm tựa duy nhất để vượt qua dâu bể cuộc đời.

Thím Ba Đực đứng bên cạnh lau nước mắt, khẽ kéo Sáu Thuyền cùng bà con hàng xóm lẳng lặng bước lui ra cửa liếp, khép hờ tấm phên tre lại để giữ trọn sự tĩnh lặng cho đôi bạn già.

Ánh lửa củi đước nhảy múa trên vách nứa, rọi tỏ cổ tay gầy guộc khẳng khiu của bà Lài buông thõng bên mép manh chiếu. Nơi cổ tay trái gầy nhom ấy, vết sẹo nhỏ hình chiếc lá nổi rõ mồn một. Vết cứa sắc lẹm từ mảnh đá mài non của đóa sen đá mà ông Khiêm nặn tặng bà năm mười chín tuổi bên bờ rạch, nay đã hóa thành vết sẹo thời gian vĩnh cửu chẳng thể nào phai mờ.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua chòm râu bạc chấm ngực của ông Khiêm, rơi trúng vào mu bàn tay gầy gò của người thương. Ông cúi rạp mái đầu bạc phơ như mây trời mùa cạn xuống sát mép chõng, hai bàn tay thô ráp áp chặt lấy bàn tay lạnh lẽo của bà lão, cất tiếng nghẹn ngào từ tận đáy lòng "Tôi tìm được cô rồi… Tôi về đây rồi cô Lài ơi. Dù ông già này chỉ còn lại một hơi thở tàn, tôi thề với trời đất bến sông này, tôi cũng sẽ dang tay che chở cho cô tới ngày nhắm mắt xuôi tay."

Giọt nước mắt ấm nóng dường như làm tan chảy màn sương mờ mịt trong tâm trí hỗn loạn của bà lão chín mươi lăm tuổi. Hàng mi bạc rung rinh mấy bận rồi từ từ hé mở. Đôi mắt đục mờ ngơ ngác nhìn gương mặt già nua đang kề sát bên mình, nhìn từng giọt lệ đang rớt đều trên vết sẹo hình chiếc lá nơi cổ tay.

Một tia sáng trong trẻo lạ kỳ bừng lên nơi đáy mắt bà Lài. Cánh môi móm mém run rẩy, bà thều thào mấp máy từng tiếng đứt quãng nhưng rõ ràng đến thấu ruột thấu gan "Khiêm… Khiêm ơi…"

Gọi xong cái tên đã chôn chặt suốt bảy mươi sáu năm ròng rã, nét mặt bà Lài dãn ra, hiền từ và thanh thản như đứa trẻ tìm lại được mái nhà sau cơn giông bão. Bà khép hờ đôi mi, thở một hơi dài êm ả rồi chìm sâu vào giấc ngủ an lành chưa từng có giữa tiếng dế rả rích bên bờ rạch Cái Rơm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.