Chương 3: Bàn Tay Nặn Vữa
Năm ngón tay khẳng khiu của bà Lài vẫn bấu riết lấy vạt áo bà ba của ông Khiêm, dẫu trong giấc ngủ say mí mắt bà đã buông chùng, hơi thở thôi không còn giật khục từng cơn. Cảm nhận được sự níu giữ tội nghiệp ấy, ông Khiêm không nỡ giằng ra. Ông ngồi nép mình nơi mép chõng tre ọp ẹp, khẽ khàng dùng bàn tay ram ráp vỗ nhè nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của bà, giữ nguyên tư thế ấy suốt nửa đêm cho tới khi tiếng gà gáy le te bên xóm cồn Tân Quy rộ lên báo hiệu con nước ròng rẽ bãi.
Khi vệt sáng mờ đục rạng đông rọi qua kẽ phên rách, bà Lài mới từ từ thả lỏng bàn tay trong giấc ngủ sâu. Ông Khiêm nhẹ nhàng gỡ mép áo, sửa lại manh chiếu mục che kín đôi bàn chân co quắp của bà rồi chống gậy lần khân bước ra bậu cửa. Ngoài bờ rạch, gió sớm thổi ràn rạt trên đám lục bình dạt mé bùn.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên lối sình, Sáu Thuyền từ dưới bến đò dọc thoăn thoắt bước lên, trên vai vắt chiếc khăn rằn ướt sương, tay xách thùng gỗ đựng đồ nghề thợ hồ cũ kỹ mà ông Khiêm gửi lại bên xóm thợ hôm trước. Nhìn thấy ông cụ chín mươi chín tuổi thức trắng đêm mà mắt vẫn sáng quắc, Sáu Thuyền cất tiếng hỏi nhỏ "Cụ Bảy thức sớm dữ hôn? Đêm qua bà Dì ngủ có êm hổng cụ?"
"Bà Lài dứt cơn sốt rồi, ngủ say từ nửa đêm tới giờ." Ông Khiêm đưa tay đón lấy chiếc thùng gỗ, giọng trầm đục mà rành rọt. "Thằng Sáu nè, bên hông chòi bà Lài có căn chòi lá trống bỏ hoang từ hồi ông Ba chài lưới qua đời, con coi dọn dẹp giùm lão già này mớ rác rến mục nát. Tôi tính dọn đồ đạc sang đó tá túc lâu dài, ở sát vách đặng sớm hôm săn sóc, có chuyện chi chạy qua chạy lại cũng tiện bề."
Sáu Thuyền trố mắt ngạc nhiên, rồi vỗ đùi cái bốp, nhe răng cười xởi lởi "Trèn ơi, được vậy thì quý hóa quá chừng! Xưa rày bà Dì thui thủi một mình, xóm giềng ai cũng bận bôn ba kiếm miếng ăn, đâu ai túc trực hoài được. Cụ Bảy cứ để đó cho con, chừng nửa giờ là sạch bóng tươm tất liền!"
Nói đoạn, Sáu Thuyền xốc nách xắn tay áo bà ba, lăng xăng chạy sang căn chòi xiêu vẹo kế bên, dọn dẹp củi mục, quét tước mạng nhện và sửa lại mấy tấm liếp dừa nước.
Phần mình, ông Khiêm chậm rãi đặt chiếc thùng gỗ gia truyền xuống bờ rạch Cái Rơm. Chiếc thùng bằng gỗ mù u đóng đai đồng đã sờn bóng theo năm tháng. Bên trong chứa đầy những vật dụng cả một đời ông gắn bó: chiếc bay sắt mòn vẹt đầu bóng láng, chiếc bàn xoa gỗ trắc, hũ vôi ô dước ủ kỹ trắng ngà dẻo quánh cùng mớ bột đá mài cẩm thạch mịn màng và nắm vỏ nghêu sò giã vụn lấp lánh như cát sông.
Ngó gian chòi của bà Lài bị gió bấc khoét nứt từng mảng lớn nơi vách đất trộn rơm, gió thông thốc luồn vào làm lạnh buốt người già, ông Khiêm bèn múc gàu nước sông đã lóng trong, đổ vào chiếc chậu sành sứt mẻ rồi bắt đầu nhào vữa. Đôi bàn tay gần trăm tuổi nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo, nhưng khi chạm vào vôi vữa thì thoăn thoắt, chuẩn xác lạ thường. Ông nhào nhuyễn vôi ô dước với cát mịn và bột đá cẩm thạch, thêm chút mật mía tạo độ kết dính dẻo quánh, tỏa ra mùi nồng ấm quen thuộc của bách nghệ dân gian miệt sông nước.
Cọt kẹt một tiếng, cánh cửa liếp hé mở. Bà Lài lảo đảo bước ra, lưng còng gập xuống, mái tóc bạc phơ bới củ tỏi gài chiếc trâm gỗ trắc cũ kỹ. Bà ngồi bệt xuống ngạch cửa gỗ trắc sứt mẻ bên bậc thềm, đôi mắt đục mờ ngơ ngác ngắm nhìn bóng lưng cặm cụi của ông già bên bờ rạch.
Bà không nói, chỉ lặng lẽ nhìn đôi tay chai sần đang xúc từng bay vữa, miết từng đường bay điêu luyện lên mảng vách nứt nẻ. Mũi bay sắt rít sột soạt trên nền đất, gọt giũa phẳng lì từng tấc vách, rồi miết một lớp đá mài mịn màng lấp kín kẽ hở cho gió lạnh khỏi lùa qua. Cử chỉ thuần thục, nhịp nhàng ấy dường như đã khơi gợi một điều gì sâu kín trong tâm trí lẫn lộn của bà lão chín mươi lăm tuổi. Đáy mắt đùng đục của bà bỗng lay động, thoáng hiện lên những đợt sóng ký ức mơ hồ xao xuyến, bờ môi móm mém mấp máy mấy bận nhưng chẳng thốt nên lời."Cụ Bảy nặn khéo tay ghê hôn!"
Tiếng reo lảnh lót của bầy trẻ xóm phà phá tan sự tĩnh lặng sớm mai. Ba bốn đứa nhỏ con nít xóm lao động, đứa mặc áo cộc, đứa c** tr*n đen nhẻm ríu rít chạy ùa lại mé nước, xúm xít ngồi xổm quanh chân ông Khiêm. Nhìn bầy trẻ háo hức, nét mặt già nua nghiêm nghị của ông Khiêm giãn ra, khóe mắt hằn sâu nụ cười đôn hậu. Ông vét chỗ vữa mài còn thừa trên bàn xoa, ngón tay thoăn thoắt vo tròn, ấn dẹp rồi nặn thành hình một chú chim bồ câu nhỏ xíu và một con cá thia thia bằng đá mài non láng mướt trao cho đứa lớn nhất "Nè, lão già này cho mấy đứa nhỏ cầm chơi. Để ngoài nắng cho ráo vữa là cứng ngắc, rớt hổng bể đâu đa."
Lũ trẻ ôm lấy con giống bằng vữa mài, cười nhe hàm răng sún, reo hò râm ran cả một khúc bờ rạch. Đúng lúc đó, thím Ba Đực từ đầu bến phà xăm xăm bước tới, trên tay bưng rổ khoai mì luộc bốc khói nghi ngút rắc muối mè thơm phức. Vừa tới ngõ, tiếng thím đã rổn rảng "Sớm mai nước ròng bến vắng, tui luộc nồi khoai mì dẻo quẹo đem sang cho cụ Bảy với cụ Bà lót dạ đây! Trèn ơi, cụ Bảy trét lại vách chòi coi kín mít ấm cúng dữ hôn, phen này gió bấc có thổi rát mặt cũng hổng sợ lạnh lưng bà cụ nữa rồi."
Thím Ba đặt rổ khoai lên ngạch cửa, ân cần bẻ nửa củ khoai mì mềm ngọt đưa tận tay bà Lài. Tình nghĩa xóm nghèo ven sông chan chứa trong từng củ khoai nóng, từng bát nước chè tươi, làm ấm sực cả gian chòi lụp sụp giữa hai mươi bảy nóc nhà sàn nghèo khó.
Ông Khiêm rửa sạch đôi tay vôi vữa dưới làn nước sông mát rượi, lau khô vào vạt áo rồi bước lại gần ngạch cửa chòi, đón lấy củ khoai từ thím Ba, cất giọng từ tốn "Cảm ơn thím Ba nhiều nghen. Bà con xóm rạch Cái Rơm này tình nghĩa sâu nặng quá, lão già này ghi lòng tạc dạ."
Bà Lài cầm nửa củ khoai mì trên tay khẳng khiu nhưng không ăn. Đôi mắt mờ đục của bà dán chặt vào đôi bàn tay còn vương bột đá mài trắng xóa của ông Khiêm, ngực phập phồng như đang cố nhớ lại một giấc chiêm bao xa xôi.
Bất chợt, bờ vai gầy guộc của bà run rẩy dữ dội. Bà buông củ khoai mì xuống mép rổ tre, run lẩy bẩy lần tìm vào sâu trong túi áo bà ba sứt chỉ. Bàn tay khô khốc rút ra một mảnh giấy điệp phong sương đã ố vàng, mép giấy rách tơi tả và mặt chữ son đã mờ cịt theo năm tháng.
Bà Lài ngập ngừng đưa mảnh giấy điệp về phía ông Khiêm, đôi môi run rẩy mấp máy, thốt lên từng tiếng ngắt quãng nghẹn ngào "Ông… ông thợ già ơi… Coi giùm bà già này với… Có phải… có phải nét chữ của chú Khiêm nặn bông sen đá mài năm xưa… viết cho tui hôn?"
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
