Chương 2: Chén Thuốc Dái Củ

Cổ họng ông Khiêm nghẹn đắng, một chữ cũng chẳng thể thốt nên lời. Đôi mắt già nua của người thợ đúc đá mài tròn chín mươi chín tuổi ứa ra dòng lệ nóng, nhỏ từng giọt xuống mu bàn tay khẳng khiu toàn da bọc xương của người nằm trên chõng tre. Bảy mươi sáu năm cách biệt, tưởng chừng nắm xương tàn đã vùi sâu dưới tầng đất lạnh, nào ngờ tiếng gọi “anh Khiêm” run rẩy xé lòng thuở hoa niên lại một lần nữa dội vào màng nhĩ ông.

Nhưng tia sáng yếu ớt nơi đáy mắt bà Lài chỉ bùng lên như ánh lân tinh chớp tắt trong đêm đen bến bãi. Làn sương mù mịt của chứng lú lẫn tuổi già lại tức khắc phủ chụp lấy tâm trí người đàn bà chín mươi lăm tuổi. Ngón tay bà buông lỏng khỏi vạt áo ông, đôi đồng tử đùng đục dại đi, ngơ ngác nhìn quanh quất bốn góc chòi lá xiêu vẹo. Nhìn thấy bóng hình cao gầy, râu tóc bạc phơ của ông lão lạ mặt đang quỳ sát bên mình, bà Lài hốt hoảng co rút cả hai chân lên mép chõng, hai bàn tay khô khốc ôm chặt lấy ngực, lắp bắp run sợ "Ông… ông là ai? Đừng… đừng dỡ chòi của tui đa! Tui đâu có lấn đất ranh của mấy thầy đâu… Đừng đuổi bà già này đi mà!"

Nỗi sợ hãi bản năng khiến bà Lài dồn sức nép sát vào vách đất nứt nẻ, cơn run rẩy lan ra khắp manh chiếu rách. Lời van lơn vụng về đâm nhói vào tâm can ông Khiêm, khiến lòng ông quặn thắt từng cơn. Bàn tay ông lơ lửng giữa khoảng không ẩm ướt, run run thu về đặt lên đầu gối, giọng nói trầm đục cố nén nỗi xót xa "Cô Lài… đừng sợ đa. Không ai đuổi cô đâu. Có tôi ở đây giữ chòi cho cô rồi."

Vừa lúc ấy, tiếng bước chân huỳnh huỵch từ chái bếp sau hè xộc tới. Thím Ba Đực hai tay bưng chiếc ơ đất nhỏ bốc khói nghi ngút, miệng đon đả vừa đi vừa thổi phù phù "Né giùm tui một chút chú Sáu ơi! Nước thuốc d** củ sắc với mớ lá ngải cứu mọc sau hè đây nè. Hên là tui nhanh chân chạy qua vạt đất hoang bẻ kịp mớ ngải cứu tươi, d** củ này ngâm mật ong rừng mùa trước còn được một dúm, uống vô mới dằn nổi cái cơn ho rút ruột rút gan của bả."

Thím Ba đặt ơ thuốc nóng hổi lên chiếc bàn cây mục bốn chân chông chênh, lật đật rót ra một chiếc chén sành da lươn đã mẻ miệng một góc. Mùi thuốc nam hăng nồng quyện với vị đăng đắng ngai ngái xông lên, át đi mùi ẩm mốc của gian chòi nghèo ven bờ rạch.

Ông Khiêm vịn vào mép giát tre, chậm rãi gượng đứng dậy rồi ngồi ghé lên mép chõng. Ông đón lấy chiếc chén sành từ tay thím Ba. Bàn tay thô ráp vốn quen cầm bay sắt nện đá mài nay cầm chiếc muỗng gỗ mòn vẹt lại cẩn trọng lạ thường. Ông múc từng muỗng thuốc nâu sẫm, khẽ khom lưng đưa lên miệng thổi nhè nhẹ cho bớt hơi nóng hầm hập. Khi làn khói mỏng dần tan, ông mới dịu dàng đưa muỗng thuốc kề sát làn môi khô nứt nẻ của bà Lài.

"Uống miếng thuốc ấm nghe cô Lài. Thuốc đắng giã tật, uống vô cho cái lồng ngực nó êm lại rồi mới ngủ yên giấc được."Bà Lài vẫn tròn mắt nhìn trân trân, đầu ngả nghiêng ngần ngại né tránh. Nhưng giọng nói trầm ấm, đều đặn như nhịp sóng vỗ chân bờ kè của ông Khiêm dường như có sức mạnh xoa dịu nỗi sợ hãi mơ hồ trong tâm trí lẫn lộn. Ngửi thấy mùi ngải cứu quen thuộc, bà từ từ há miệng, nuốt từng muỗng nước thuốc ấm nóng. Vị đắng gắt nơi đầu lưỡi làm khóe mắt bà nhăn tít lại, nhưng dòng nước ấm chạy dọc cuống họng đã xua bớt những cơn co thắt buốt giá. Từng muỗng rồi lại từng muỗng, chén thuốc dần cạn đáy. Cơn ho hen rũ rượi giật từng hồi ban nãy chùng xuống, chỉ còn lại những tiếng thở khò khè nhè nhẹ, bình yên hơn.

Bên góc chòi, Sáu Thuyền ngồi chồm hổm châm ngọn đèn dầu hỏa le lói đặt trên chiếc cọc gỗ cắm mé vách. Nước da ngăm đen của anh bóng nhẫy dưới ánh đèn hạt đỗ, bàn tay lực lưỡng vân vê chiếc khăn rằn vắt ngang vai. Thấy bà cụ đã dứt cơn sốt mê sảng, Sáu Thuyền thở phào một hơi dài, cất giọng rổn rảng nhưng cố ghìm nhỏ lại "Cũng may nhờ cụ Bảy qua kịp thời dỗ dành bả uống cạn chén thuốc. Chớ tánh bà Dì hồi nào tới giờ hễ phát chứng ho hen lẫn lộn là bướng dữ lắm, ai dỗ cũng chẳng thèm ngó ngàng tới, cứ đòi tìm cho bằng được chú thợ nặn bông sen đá mài năm nảo năm nào. Nghe bả lảm nhảm hoài mà tụi con xót cả ruột gan."

Thím Ba Đực kéo vạt áo bà ba lau mồ hôi trán, ngồi bẹp xuống chiếc đòn gỗ mục bên bậu cửa, chép miệng thở dài "Khổ trăm bề cụ Bảy ơi! Bà cụ côi cút một thân một mình ở cái vàm rạch Cái Rơm này ngót nghét mấy chục năm trời rồi. Hồi trẻ góa bụa, bom đạn loạn lạc trôi giạt về miệt Sa Đéc, chẳng có con cái nương nhờ, cũng hổng còn ai thân thích thích thuộc trên đời. Mắt mũi bả kém dần, lưng còng gập xuống sát đất, ngày ngày chỉ biết cặm cụi lượm từng nhánh củi khô mé bến, mò mẫm bắt từng con ốc dưới bãi bùn để đắp đổi qua ngày. Xóm phà hai mươi bảy nóc nhà sàn này ai nấy đều nghèo rớt mồng tơi, nhưng thấy bả côi cút quá nên cưu mang đùm bọc. Bữa nào thằng Sáu quăng chài dính mớ cá lòng tong thì đem sang một ơ cá kho, bữa nào tui bán hết gánh bún nước lèo thì múc chén nước lèo nóng hổi mang qua cho bả chan cơm nguội. Tối lửa tắt đèn chia nhau củ khoai, con ốc vậy đó, chớ để bả một mình thì bả chết rục trong xó chòi này từ đời tám hoánh nào rồi."

Lời kể mộc mạc, chân chất của thím Ba và Sáu Thuyền như từng tảng đá nặng đè nghiến lên lồng ngực ông Khiêm. Ông ngồi bất động bên mép chõng tre, ánh mắt thâm trầm dõi theo từng nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán người thương. Đôi bàn tay chai sần vì vôi vữa của ông siết chặt lại. Bảy mươi sáu năm dâu bể, ngần ấy thời gian ông phiêu dạt khắp các công trình đắp bia, dựng mốc, chà đá mài đình chùa miệt sông Tiền, sông Hậu để mưu sinh, trong lòng chưa từng nguôi ngoai hình bóng cũ.

Ký ức năm Mậu Ngọ 1858 bỗng chốc cuộn trào về rõ mồn một như mới hôm qua. Năm ấy, chàng thợ trẻ hai mươi ba tuổi Nhâm Vĩnh Khiêm tài hoa nức tiếng bên vàm sông, đem lòng thương cô thôn nữ mười chín tuổi Nguyễn Thị Lài nết na, thùy mị. Bên bến nước Tân Quy Đông thơm ngát mùi hoa cau, ông từng nhào nặn từng nắm vôi ô dước dẻo quánh, trộn bột đá mài lấp lánh để đắp đóa sen hồng tặng nàng, hẹn ngày kết tóc se duyên. Nào ngờ súng thần công của giặc Pháp nổ vang trời Gia Định, đạn bom khói lửa tràn về xé toạc đất Nam Kỳ. Trong cơn hỗn loạn chạy giặc chia lìa đôi ngả, một mảnh đá mài vỡ toác đã cứa vào cổ tay trái của cô thôn nữ, để lại vết sẹo hình chiếc lá mang theo lời hẹn ước trăm năm bặt vô âm tín.

Ai ngờ đâu, giữa cõi nhân gian dâu bể xoay vần, hai mái đầu xanh năm nào nay đã bạc phơ như mây trời mùa cạn, một người chín mươi chín, một người chín mươi lăm, lại tương ngộ giữa túp lều rách nát bên mé rạch rũ bùn lầy.

Gió bấc non từ mé sông thổi thốc qua khe liếp, làm ngọn đèn dầu trên vách chao nghiêng từng đợt. Bà Lài nằm co ro trên manh chiếu rách, bờ mi bạc khép hờ, hơi thở đã dần đều đặn trong giấc ngủ chập chờn sau chén thuốc d** củ ấm nồng. Nhưng ngay trong cơn mộng mị, bàn tay gầy guộc khẳng khiu của bà vẫn lần khân lần tìm trong bóng tối, run rẩy nắm chặt lấy một góc vạt áo bà ba của ông Khiêm, năm ngón tay khô khốc bấu víu không chịu buông lơi, như thể sợ rằng chỉ cần nới lỏng nửa phân là bóng hình trước mắt sẽ tan biến vào dòng nước ròng đen ngòm ngoài vàm rạch.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.