Chương 22: Mái Chòi Mới Bên Bến An Yên

Chiếc ghe tam bản lướt nhanh trên dòng nước Sa Giang, bọt sóng trắng xóa tung tóe nơi mũi thuyền rẽ lối. Ngồi ở khoang giữa, ông Khiêm chắp hai tay lên đầu gậy tre đực, nghe tiếng gió bấc thổi lồng lộng qua vạt áo lụa đen. Phía trước mũi chèo dẻo quẹo của Sáu Thuyền, doi đất vàm Cái Rơm dần hiện rõ dưới bóng những rặng bần thân thuộc.

Vừa nhác thấy bóng chiếc ghe tam bản quẹo vô vàm, bến sông bỗng nổ giòn giã tiếng pháo chuột lách tách xen lẫn chuỗi cười giòn tan. Đám trẻ con xóm phà vừa vỗ tay vừa nhảy cẫng lên trên vũng bùn non "Ghe chú Sáu đưa cụ Bảy về rồi! Bến mình thắng lớn rồi bà con ơi!"

Mũi ghe chưa kịp cắm sào vô bến đất, Sáu Thuyền đã buông dầm chèo nhảy tót lên bờ. Anh vơ lấy cây xà beng cắm sẵn bên mép nước, hướng về phía mấy chàng trai tráng xóm thợ hồ Tân Quy Đông gào to "Anh em đâu! Nhổ phăng mấy cái cọc sắt với hàng rào kẽm gai của thằng Ký Bửu cho tui! Trả bến nước lại cho xóm mình!"

Tiếng búa tạ nện chan chát vào chân cọc sắt, tiếng kìm bấm xoắn dây thép gai kêu răng rắc. Chẳng mấy chốc, những vòng kẽm gai sắc nhọn bấy lâu bít lối mưu sinh của chiếc ghe đò dọc đã bị trai tráng xóm phà giật sập, quẳng lăn lóc lên bờ lộ. Lối đò xưa lại mở toang, thênh thang đón từng ngọn gió sông lành mát.

Ông Khiêm vịn bờ vai vạm vỡ của Sáu Thuyền chậm rãi bước lên bờ dốc. Dưới bóng râm của hàng dừa nước, bà Lài đang run rẩy đứng tựa vào chiếc gậy tre con, đôi mắt đục mờ ngóng trừng trừng về phía ông. Vừa thấy dáng cao gầy với chòm râu bạc trắng như mây của người xưa, bà lập tức lẩy bẩy bước tới, hai bàn tay khẳng khiu níu chặt lấy vạt áo lụa đen của ông, giọng nghẹn ngào trong gió sớm "Ông Khiêm… anh Khiêm về thiệt rồi đa! Sáng giờ tui đứng ngó qua bên kia sông mà ruột gan thắt thẻo từng đoạn. Bả vai bên trái của anh… còn buốt nhức lắm hôn?"

Bàn tay gầy guộc run run của bà Lài vội đưa lên, ân cần sờ nắn nhè nhẹ quanh bả vai trái của ông Khiêm. Cảm nhận được hơi ấm quen thuộc và sự xót xa chất phác ấy, ông Khiêm khẽ mỉm cười, đôi mắt già nua ánh lên niềm an ủi vô bờ. Ông đưa bàn tay thô ráp chai sần nắm lấy mấy ngón tay lạnh ngắt của bà, giọng trầm đục mà ấm sực "Vết rách kéo da non khô queo rồi, hổng còn buốt nữa đâu cô Lài. Quan Tỉnh trưởng tước thẻ bài, bắt giam thầy Ký Bửu ngay tại công đường rồi! Lộ giới nắn thẳng theo tim Cột mốc số Ba, hai mươi bảy nóc nhà sàn xóm Cái Rơm mình được giữ nguyên vẹn đất thổ cư. Từ rày về sau, hổng còn ai dám xua đuổi hay dỡ nhà của cô nữa đâu!"

Bà Lài nghe dứt lời thì nghẹn ngào, hai hàng nước mắt ứa ra rịn ướt những rãnh nhăn nheo nơi gò má. Bà buông một tiếng thở phào nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng trong lồng ngực suốt bao tháng ngày hoang mang, sợ sệt.

Chẳng để hai cụ kịp đứng lâu ngoài nắng, tiếng cười nói rổn rảng từ phía sau bỗng rộ lên. Thím Ba Đực vác hai bó lá dừa nước dày cộm xăm xăm bước tới, miệng oang oang "Thôi thôi, dẹp hết ba cái chuyện buồn bực lại đi đa! Cụ Bảy đã lấy lại lẽ phải cho xóm mình, giờ tới lượt bà con ta chung tay đền ơn đáp nghĩa! Mấy chú thợ hồ đâu, mau dựng lại cái chòi cho cụ Bà coi!"Hơn bốn mươi người dân xóm phà chẳng ai bảo ai, lập tức xắn tay áo vào việc. Trai tráng khỏe mạnh vung búa chẻ tre đực ken vách, người chèo xuồng chở từng rập lá dừa nước mới thơm nồng mùi đồng bãi sang lợp lại mái chòi. Những người thợ hồ Tân Quy Đông tài hoa thoăn thoắt tra mộng, chằng néo lại những thanh đòn tay mù u cho ngay ngắn, chắc chắn. Mấy chị em phụ nữ và lũ trẻ con thì xúm xít khiêng đất bùn, vun vén lại từng gốc cây, cắm lại hàng rào dâm bụt xanh mướt quanh bờ sân vừa bị Ký Bửu giật sập hôm nào. Chỉ trong buổi sớm, túp lều rách nát thuở trước đã biến mất, nhường chỗ cho gian chòi lá ba gian mới toanh, thơm ngát mùi dừa nước non và vững chãi trước gió sông.

Ở mé bờ rạch, ông Khiêm chống gậy đứng nhìn Cột mốc đá mài số Ba sừng sững dưới nắng trưa. Dưới sự chỉ dẫn tường tận của ông, Sáu Thuyền cùng cánh thợ hồ cẩn thận đắp từng tảng đất sét xanh dẻo quánh xuống quanh móng cọc sâu ba thước mộc, dùng chày gỗ nện thật chặt từng lớp đất để vỉa sét ôm khít lấy chân đế. Bột đá mài pha vỏ nghêu sò trên thân mốc lấp lánh hoa sen tám cánh dưới ánh mặt trời rực rỡ, chính thức trở thành cọc ranh vĩnh cửu bất khả xâm phạm che chở cho bờ bến Cái Rơm.

Đến xế chiều, khi công việc dựng chòi và gia cố mốc ranh vừa xong xuôi, trước khoảng sân đất nện phẳng phiu của chòi mới đã bày sẵn hai dãy bàn ván dài. Thím Ba Đực cùng mấy thím xóm phà bưng lên những tô bún nước lèo bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi ngải bún và sả bằm, điểm xuyết thêm những khoanh bánh tét nếp dẻo quánh gói nhân đậu xanh thịt mỡ. Dân hai mươi bảy nóc nhà tề tựu đông đủ, tiếng cụng ly rượu nếp sủi bọt râm ran, tiếng cười nói chan hòa khắp một góc trời sông nước. Xóm phà nghèo chưa bao giờ có được một ngày hội vui vẻ, ấm cúng và thắt chặt tình làng nghĩa xóm bền chặt đến nhường này.

Đêm buông xuống êm đềm trên vàm Sa Giang. Gió bấc non mang hơi lạnh se sắt tràn qua ngọn cây bần, nhưng bên hiên chòi mới ngào ngạt mùi lá dừa khô, không khí lại ấm sực bởi ánh lửa bập bùng từ chiếc hoả lò đất nung.

Bà Lài ngồi trên chiếc chõng tre con, mái tóc bạc phơ được chải chuốt gọn gàng sau một ngày dài rộn rã. Nhìn làn khói trắng mỏng manh lượn lờ trên ấm nước rễ tranh sôi sùng sục, bà khẽ nghiêng người, đưa bàn tay nhăn nheo lần vào túi áo bà ba lụa mỡ gà. Từ bên trong túi áo, bà trân trọng rút ra một mảnh giấy điệp phong sương đã ố vàng, mép giấy sờn rách theo năm tháng nhưng nét mực son ghi lời hẹn ước bên vàm sông năm Mậu Ngọ 1858 vẫn còn nguyên vẹn.

Bà run run đặt mảnh giấy vào lòng bàn tay dính vệt vôi vữa của ông Khiêm, giọng thì thầm như ngọn gió thoảng "Bảy mươi sáu năm rồi đó anh Khiêm… Tui giữ mảnh giấy này trong túi áo, đi qua biết bao nhiêu mùa mưa nắng dâu bể. Lúc nhớ lúc quên, lúc lẫn cẫn hổng biết mình là ai, tui vẫn nhớ như in có người thợ trẻ nặn bông sen bằng đá mài non hẹn ngày quay lại rước tui…"

Nhìn mảnh giấy điệp thân thương cùng ánh mắt trong veo, hiền từ của người xưa, sống mũi ông Khiêm cay sè. Đôi mắt già nua của người thợ bách niên nhòa lệ. Ông cẩn thận cất mảnh giấy điệp vào ngực áo mình, rồi từ tốn với tay lấy chiếc hộp gỗ mun đặt bên mép chõng mở nắp ra.

Dưới ánh trăng rằm tháng Mười vằng vặc soi qua khe lá, chiếc trâm bạc nạm đá xà cừ hình búp sen non ánh lên sắc biếc dịu dàng, tinh xảo. Ông Khiêm nhẹ nhàng rút chiếc trâm gỗ trắc cũ kỹ đã mòn vẹt trên búi củ tỏi của bà Lài ra, rồi đưa những ngón tay thô ráp, cẩn trọng cài chiếc trâm bạc búp sen non lên mái tóc bạc trắng như mây trời mùa cạn.

Bà Lài đưa tay khẽ sờ vào cánh sen bạc mát rượi, nở nụ cười móm mém hiền hậu. Bà ngước nhìn bóng hình hai người lung linh in dưới mặt nước rạch Cái Rơm đang độ nước lớn tràn bờ. Chợt, bà nghiêng đầu dựa sát vào bờ vai áo lụa của ông Khiêm, thì thào vào tai người bạn đời một lời ước nguyện mộc mạc "Mái chòi đã yên, bến phà đã vững… Mai mốt mình mần cái lễ vấn danh mộc mạc cho ấm cúng gian nhà nghe anh Khiêm…"

Nghe lời thủ thỉ đơn sơ mà thắm đượm nghĩa tình son sắt sau gần trọn một thế kỷ đợi chờ, đôi mắt ông Khiêm rưng rưng giọt lệ mừng rơi khẽ xuống mu bàn tay người thương.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.