Chương 21: Bằng Chứng Thép Giữa Dinh Tỉnh
Mũi ghe tam bản lướt êm trên làn nước đỏ ngầu phù sa của dòng Sa Giang, rẽ từng lượn sóng bạc hướng thẳng sang bờ bắc. Ngồi nơi khoang xuồng, ông Khiêm khẽ vuốt thẳng nếp áo bà ba lụa đen, đôi guốc mộc mù u đặt ngay ngắn trên sàn ván láng bóng. Bả vai trái vừa kéo da non chỉ còn hơi râm ran ngứa khi gió sớm thổi thốc qua lớp vải mịn. Sáu Thuyền nghiêng mình gò dầm chèo gỗ sao, từng nhát nước dứt khoát đẩy chiếc ghe lướt băng băng, còn thầy ký Phan ngồi đối diện nghiêm cẩn ôm chặt tráp gỗ chứa tập hồ sơ địa bạ dày cộp.
Nắng sớm vừa ửng hồng trên ngọn những hàng sao cổ thụ, bến đò trước cổng dinh Tỉnh trưởng Sa Đéc đã đông nghẹt người. Hơn bốn mươi người dân xóm Cái Rơm cùng bà con tiểu thương chợ Cây Da Dầu, cánh thợ hồ Tân Quy Đông và dân thương hồ đi đò dọc tụ hội san sát nhau tạo thành một bức tường người ngóng đợi. Vừa thấy mũi ghe tam bản của Sáu Thuyền cắm sào cập bến, tiếng xôn xao lập tức rộ lên "Cụ Bảy Khiêm sang tới rồi kìa bà con ơi!"
"Cố lên cụ Bảy! Cả xóm phà trông cậy hết vô lẽ phải của cụ đa!"
Sáu Thuyền nhanh nhảu ghé vai đỡ nách ông Khiêm bước lên bờ đá. Chống cây gậy tre già xuống mặt đường đá dăm, ông Khiêm khẽ gật đầu chào chòm xóm. Ánh mắt tinh anh của người nghệ nhân gần trăm tuổi rực lên vẻ quắc thước, bước chân lần khân nhưng đĩnh đạc đi qua khoảng sân rộng dẫn vào sảnh đường dinh Tỉnh trưởng.
Gian sảnh công đường trang nghiêm lót gạch bông cổ điển, trần cao vút treo chiếc quạt kéo bằng vải bố. Phía sau chiếc bàn gỗ gõ đỏ chạm trổ tinh xảo, viên Tỉnh trưởng người Pháp mặc âu phục trắng tinh, nét mặt nghiêm nghị bên cạnh viên kỹ sư trưởng Sở Công chính đang lật giở xấp hồ sơ kỹ thuật. Ở góc bàn bên tả, Ký Bửu ngồi co ro, hai bàn tay mập mạp bấu chặt chiếc cặp da lấm lét, vầng trán bóng nhẫy mồ hôi dù gió sông từ cửa sổ lớn lùa vào mát rượi.
Tiếng gậy tre của ông Khiêm gõ cộp cộp xuống nền gạch, thu hút mọi ánh nhìn. Viên Tỉnh trưởng gật đầu ra hiệu, giọng viên thông ngôn vang lên lạnh lùng "Hôm nay mở phiên đối chất giải quyết đơn kêu cứu của dân xóm Cái Rơm về ranh giới mở bờ lộ. Thầy Ký Bửu, ông trình bày trước."
Ký Bửu giật nẩy mình, lật đật đứng dậy chùi mồ hôi trán. Gã run giọng mở tấm bản đồ giấy can vẽ bằng mực xanh đỏ, cố giữ vẻ tự tin "Bẩm… bẩm quan lớn và quan kỹ sư trưởng. Bản trắc địa này do Sở lập chiếu theo tim lộ bờ nam. Do mé sông lở bồi biến chuyển, tim lộ bắt buộc phải uốn sâu vào đất thịt xóm phà hơn năm trượng mới bảo đảm an toàn cho lòng đường xe chạy và bến bãi bốc dỡ. Hai mươi bảy gian chòi lá đó cất lấn trên đất công, việc giải tỏa là đúng quy chuẩn hiện thời."
"Nói láo!"
Thầy ký Phan bước lên một bước, giọng đanh thép cắt ngang lời gã. Bàn tay gầy guộc của viên thư lại già mở tráp gỗ, dõng dạc trải rộng một tờ giấy bản dài lên mặt bàn đối chất. Nổi bật trên nền giấy là bản dập nổi bằng mực tàu đen nhánh, hiện rõ đóa hoa sen tám cánh cùng những dòng lạc khoản khắc sâu "Thưa quan Tỉnh trưởng, đây là bản dập nổi cọc mốc do chính tay tôi lấy dấu hôm qua tại hiện trường rạch Cái Rơm, trước sự chứng kiến của viên thanh tra sở. Đây không phải cọc gỗ tạm bợ, mà là Cột mốc đá mài số Ba đúc sâu ba thước mộc trong tầng đất sét xanh từ năm Canh Ngọ 1870!"
Cùng lúc đó, thầy ký Phan mở tiếp tập bản đồ địa chính bằng giấy dó thời Tự Đức lưu trữ từ kho tàng thư Sài Gòn mang về. Viên kỹ sư trưởng người Pháp tròn xoe mắt, vội đeo kính trắng cúi rạp người xuống mặt bàn, dùng compa sắt và thước đo tỷ lệ đối chiếu từng tầm mộc trên bản đồ cổ với bản dập hoa sen đá mài.
Lúc bấy giờ, ông Khiêm mới từ tốn tiến lên. Giọng ông trầm đục, ấm áp mà sang sảng vang khắp công đường "Bẩm quan lớn, nghề đúc đá mài và dựng cọc ranh bờ cõi là nghiệp gia truyền của tôi từ thuở trai trẻ. Năm Canh Ngọ 1870, triều đình cùng nhà chức trách sở tại cho dựng bốn cột mốc phân định ranh đất thổ cư của dân chài và bến sông Sa Giang. Khi ấy, chính tay tôi trộn vôi ô dước ủ kỹ với cát mịn sông Tiền, bột đá cẩm thạch và vỏ nghêu sò đập vụn đúc nên thân mốc lăng trụ này. Móng cọc được chôn sâu đúng ba thước mộc, cắm chặt vô vỉa sét xanh đáy sông đặng nghìn năm không trôi không lệch."Ông Khiêm đưa đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào gương mặt tái mét của Ký Bửu, đanh thép vạch trần "Sông Sa Giang mùa bấc có ròng sát đáy thì tim mốc vẫn nằm y nguyên chỗ cũ. Thầy Ký Bửu bảo mé bãi bồi sạt lở nên phải dời lộ năm trượng là dối trên lừa dưới! Thầy cố tình bẻ cong tim thước mộc, cạo sửa vành dấu đồng của Sở Công chính hòng đẩy con đường đè lên nhà dân xóm phà, chừa lại dải đất bãi bồi phẳng phiu ngoài vàm cho thương buôn Chợ Lớn xây kho bách hóa trục lợi riêng. Chữ Nho và hoa sen đá mài tôi khắc sáu mươi tư năm trước vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt dưới đáy bùn, đất sét xanh ngậm chặt lấy chân mốc chưa hề suy suyển một phân!"
Viên kỹ sư trưởng người Pháp đứng bật dậy sau khi đo đạc xong. Ông ta nhìn vết hoa sen đá mài trên bản dập, lại nhìn sang đôi bàn tay chai sần đầy vệt vôi vữa của ông lão chín mươi chín tuổi. Vị kỹ sư tháo kính, nghiêng mình cúi đầu thật thấp trước ông Khiêm, rồi quay sang nói một tràng tiếng Pháp với quan Tỉnh trưởng.
Viên thông ngôn xúc động dịch lại từng lời "Quan kỹ sư trưởng xác nhận: Tọa độ Cột mốc số Ba năm Canh Ngọ 1870 trùng khớp hoàn toàn với bản đồ gốc của Thống đốc Nam Kỳ lưu tại Sài Gòn. Bản vẽ của Ký Bửu là ngụy tạo, cố ý bẻ lệch trục đường năm trượng mộc. Quan kỹ sư bày tỏ lòng bái phục sâu sắc trước kỹ thuật đúc mốc đá mài phi thường và tri thức đo đạc chính xác tuyệt đối của bậc thầy bách nghệ dân gian!"
Ký Bửu nghe xong liền rụng rời tay chân, chiếc cặp da rơi bộp xuống sàn gạch, gã quỳ sụp xuống run như cầy sấy.
"Rầm!"
Quan Tỉnh trưởng đập mạnh bàn tay xuống bàn, dõng dạc tuyên bố "Hủy bỏ toàn bộ lệnh giải tỏa xóm Cái Rơm! Lộ giới mới phải nắn thẳng theo đúng tim mốc đá mài năm 1870, giữ nguyên hiện trạng thổ cư cho hai mươi bảy nóc nhà nghèo! Lính đâu, tước thẻ bài, bắt giam ngay tên Trương Văn Bửu để điều tra tội làm sai lệch công văn và ăn hối lộ!"
Hai người lính tập lập tức bước tới, bẻ quặt tay Ký Bửu lôi xềnh xệch ra cửa hậu trong tiếng van lơn thảm thiết của gã.
Khi cánh cửa lớn sảnh dinh Tỉnh trưởng mở toang, ông Khiêm ung dung chống gậy tre bước ra thềm đá cao. Nhìn thấy bóng áo lụa đen quen thuộc và nụ cười hiền hậu của ông cụ, thầy ký Phan từ phía sau giơ cao tờ quyết định bãi bỏ lệnh giải tỏa.
Một tiếng reo hò rền vang dậy đất bùng nổ khắp bờ sông Sa Đéc "Thắng rồi! Bến phà còn rồi bà con ơi!"
Hàng trăm cánh tay giơ lên, tiếng vỗ tay rầm rập xen lẫn tiếng khóc nghẹn ngào của những người phu chèo đò, thợ hồ và đàn bà xóm Cái Rơm. Giữa dòng người đang hò reo tràn ngập niềm vui sướng khôn xiết, Sáu Thuyền vừa lau nước mắt vừa lanh chanh chen vào đỡ lấy tay ông Khiêm, giọng rổn rảng sốt sắng "Cụ Bảy ơi, con mừng muốn rớt tim ngoài lồng ngực! Mau mau ra ghe con chở cụ về vàm Cái Rơm liền đa! Hồi sớm lúc ghé bến đón cụ, con thấy bà Dì Lài đã lụi cụi đứng trông ngoài mũi rạch, dặn con đưa cụ về gấp đặng có một điều bất ngờ đợi cụ về tận tay trao đó cụ Bảy!"
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
