Chương 1: Bến Nước Canh Ba
Tiếng nước ròng rút xiết dưới chân bờ kè đá mài kéo ông Nhâm Vĩnh Khiêm ra khỏi cơn chập chờn lúc rạng đông. Năm Giáp Tuất 1934 này, bờ nam sông Sa Đéc bắt đầu chộn rộn những lời đồn thổi về cuộc mở bến, nắn bờ lộ của Sở Công chính, khiến lòng người thợ già chín mươi chín tuổi chẳng thể nào yên giấc. Chống cây gậy tre đực đã lên nước bóng lọng, ông Khiêm chậm rãi lần từng bước dọc theo lối mòn xóm thợ hồ Tân Quy Đông.
Đôi chân già nua mang đôi guốc mộc gõ lụp cụp trên lớp cát mịn pha vỏ nghêu. Khớp gối kêu khục khặc sau gần một thế kỷ dầm mưa dãi nắng, nhưng đôi mắt già nua của ông vẫn tinh tường rà từng tấc bờ đất. Dưới mé nước lúp xúp bèo tây, mạch vữa vôi ô dước ủ kỹ trộn bột đá mài mà ông đắp từ thuở tráng niên vẫn còn bám chặt lấy chân triền đất, trơ gan cùng tuế nguyệt dẫu rêu phong đã phủ xanh rì. Ông cúi người, bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết chai sần miết nhẹ lên gờ đá mát lạnh, thở hắt ra một hơi dài nghe chừng trĩu nặng "Nước ròng sát đáy thế này, đất sét xanh trơ gốc, không khéo mé vàm lại lở thêm mấy thước mộc nữa cho coi."
"Ông Bác ơi! Ông Bác Khiêm ơi!"
Tiếng kêu thất thanh từ ngoài vàm rạch cắt ngang dòng suy nghĩ của ông lão. Chiếc xuồng ba lá lướt vun vút trên mặt nước đỏ ngầu phù sa, mũi xuồng xé toạc mảng lục bình trôi dạt. Sáu Thuyền cắm phập mái dầm xuống bùn non, quăng sợi dây dừa cột vội vào chiếc cọc bần rồi nhảy tót lên bờ. Bắp tay gã cuồn cuộn, chiếc áo bà ba đen ướt đầm mồ hôi dính bết vào lồng ngực, chiếc khăn rằn vắt vẻo trên vai chực rớt.
Gã thở không ra hơi, hai tay chắp lại dập dập trước mặt ông Khiêm "Hú hồn hú vía, con chèo đò dọc kiếm ông Bác từ mờ đất tới giờ! Xóm Cái Rơm xảy chuyện rồi bác ơi!"
Ông Khiêm đứng sững lại, gậy tre chống vững xuống nền đất nện, giọng trầm đục mà nghiêm nghị "Chuyện chi mà hớt hớt hải hải như gà mắc đẻ vậy thằng Sáu? Đám thầy ký dưới sở lại đem cọc gỗ xuống cắm bậy cắm bạ nữa hả?"
"Dạ hổng phải chuyện cọc lộ!" Sáu Thuyền nuốt nước miếng ực một cái, xua xua tay, nét mặt bộc trực lộ rõ vẻ lo lắng khôn xiết. "Là bà lão neo đơn ở cái chòi rách chỗ vàm rạch đó bác! Hồi sớm bảnh mắt, bà cụ lụi hụi lần ra gốc đa chợ Cây Da Dầu lượm củi khô, chẳng biết trúng gió độc hay đói lả mà xây xẩm mặt mày rồi té ngửa, ngất xỉu trơ trơ ra đó! May phước có thím Ba Đực gánh bún ngang qua thấy kịp, la làng la xóm rồi cõng cụ về chòi. Giờ bà lão mê man, thở khè khè như bọng ống tre thổi lửa, thím Ba biểu con ráng chạy đi tìm coi có ai biết chút ngón nghề bấm huyệt hay bài thuốc rễ tranh cứu mạng cụ qua cơn hiểm nghèo này hôn!"
Nghe nhắc tới bà lão đơn chiếc ở mé rạch, cõi lòng ông Khiêm chợt thắt lại một cái nhói buốt. Ông biết túp lều ấy, một gian chòi lá dừa nước xiêu vẹo cắm cọc bên bờ sạt lở, nơi có một bà cụ tóc bạc phơ sống thui thủi một mình, chẳng bà con thân thích, ngày ngày chỉ biết dựa vào mớ rau mắm láng giềng xóm phà đùm bọc.
"Đi! Mau đưa ông già này qua bến Cái Rơm!"
Chẳng kịp nghĩ ngợi đến đôi chân đang đau nhức, ông Khiêm dợm bước xuống mé sông. Sáu Thuyền lanh lẹ đỡ lấy cánh tay khẳng khiu của ông cụ, dìu ông bước lên khoang xuồng ba lá. Mái dầm vung lên dứt khoát, con đò xé nước lao nhanh về phía bờ nam rạch Cái Rơm.
Gió sớm miệt sông Tiền thổi thốc qua rặng bần trĩu quả, mang theo hơi sương lạnh ngắt và mùi bùn nồng nặc. Cập bến đất lầy lội, ông Khiêm chống gậy bước vội theo sau Sáu Thuyền, luồn qua mấy rặng bình bát rậm rạp để đến trước gian chòi rách nát. Túp lều nghèo quạnh quẽ nằm lọt thỏm giữa hai mươi bảy nóc nhà sàn xơ xác của xóm lao động, mái lá dừa nước rách bươm từng mảng lớn phơi trần những thanh rui mè mục ải.
Bên trong gian chòi, thím Ba Đực đang ngồi chồm hổm bên chiếc hoả lò đất nung, tay cầm mo cau quạt lấy quạt để mớ than đước un khói mù mịt. Nghe tiếng chân người, thím quay ngoắt lại, cất giọng sang sảng mà đẫm vẻ sốt ruột "Trời phật ngó xuống mà coi, anh Sáu rước được cụ Bảy qua rồi! Mau vô coi giùm tui cụ Bảy ơi, bà già này bả thở hắt từng cơn, người lạnh ngắt như cục đồng nguội vầy nè!"
Ông Khiêm bước qua bậu cửa liếp xiêu vẹo. Khẽ nheo đôi mắt đã mờ đục vì bụi thời gian, ông nhìn về phía chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đất nứt toác.Trên manh chiếu rách thủng lỗ chỗ, một bà lão dáng người nhỏ thó, lưng còng gập gãy đang nằm co ro. Mái tóc bà trắng phau như mây trời mùa cạn, xơ xác búi củ tỏi lỏng lẻo gài bằng một chiếc trâm gỗ trắc đã mòn vẹt đầu. Từng cơn ho hen rũ rượi giật nảy lồng ngực gầy guộc dưới lớp áo bà ba nâu bạc màu sứt chỉ. Bà nằm mê man, đôi môi khô nứt nẻ thỉnh thoảng lại run rẩy phát ra những tiếng r*n r* nghẹn ngào trong cuống họng.
Ông Khiêm tiến lại gần chiếc chõng tre, từng khớp xương già nua khẽ run lên. Bất chợt, ánh mắt ông dừng lại nơi cổ tay trái của người đang nằm trên chiếu.
Tay áo bà ba xộc xệch kéo trễ lên, để lộ một cánh tay khẳng khiu toàn da bọc xương. Nhưng ngay trên lằn chỉ cổ tay gầy guộc ấy, ẩn hiện một vết sẹo nhỏ thó hình chiếc lá dập dềnh — một dấu vết năm xưa do mảnh đá mài non cứa vào, vĩnh viễn không phai mờ.
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng ông lão chín mươi chín tuổi. Trái tim già nua ngỡ đã phẳng lặng như mặt nước hồ thu bỗng đập dồn dập từng nhịp nhức nhối. Đôi bàn tay thô ráp dính vệt vôi vữa của ông bấu chặt vào đầu gậy tre đực, các ngón tay run lẩy bẩy như chiếc lá trước gió bấc.
"Có phải… có phải thiệt là…"
Ông Khiêm lẩm bẩm trong cổ họng, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực. Bảy mươi sáu năm! Đúng bảy mươi sáu năm dâu bể trôi giạt kể từ năm Mậu Ngọ 1858 tao loạn, bom đạn giặc Pháp san bằng bờ cõi, chia lìa đôi lứa đôi nơi. Chàng thợ trẻ hai mươi ba tuổi năm nào đã tìm kiếm cô thôn nữ mười chín tuổi suốt một đời người trong vô vọng, ngỡ đâu nấm mồ xưa đã vùi lấp tất cả, nào ngờ lại gặp lại giữa túp lều rách nát ven rạch Cái Rơm này.
Bà lão trên giường bỗng quằn quại, hai bàn tay khô khốc như nhánh củi rào chới với quơ quào vào khoảng không gian mờ mịt của cơn sốt. Đôi môi thâm sì mấp máy những lời mê sảng đứt quãng "Đừng… đừng đập… Bông sen đá… chú thợ nặn bông sen đá của tui đâu rồi… Trả lại cho tui…"
Mỗi tiếng thều thào lọt vào tai ông Khiêm như từng nhát búa nện thẳng vào tim gan. Đích thị là nàng rồi! Đích thị là người con gái năm xưa từng ngồi bên bến sông ngắm ông nhào từng nắm vôi ô dước đắp đóa sen hồng!
Thím Ba Đực bưng lại một chén nước gừng nóng, sụt sịt mũi "Khổ thân cụ bà, lú lẫn nhớ nhớ quên quên cả chục năm nay mà hễ lên cơn sốt là miệng cứ kêu tìm chú thợ nào đó đắp bông sen. Cụ Bảy coi giùm xem cụ bà có qua khỏi con trăng này hôn?"
Ông Khiêm không đáp lời thím Ba. Cả vòm trời ký ức tuổi hoa niên cuồn cuộn dội về làm hai hốc mắt già nua của ông ứa ra những giọt lệ đùng đục, nóng hổi lăn dài trên gò má nhăn nheo. Ông run rẩy quỳ một bên gối xuống nền đất nện ẩm ướt, buông rơi cây gậy tre sang một bên.
Đôi bàn tay đầy vết chai sần của người thợ đúc đá mài cẩn thận vươn ra, nhẹ nhàng chạm vào mép chiếu cói mục toan đỡ lấy chén nước gừng từ tay thím Ba để thổi nguội bón cho người thương.
Ngay khoảnh khắc ngón tay khô ráp của ông vừa chạm vào manh chiếu, bà lão trên chõng tre bỗng khẽ rùng mình một cái. Đôi mi bạc chớp chớp mấy hồi rồi từ từ hé mở. Trong đáy mắt đùng đục mờ sương của tuổi chín mươi lăm, một tia sáng yếu ớt bỗng chốc lóe lên kỳ lạ. Bà Lài nhìn trân trân vào gương mặt già nua với chòm râu bạc như cước của người đối diện, lồng ngực phập phồng gấp gáp, rồi cánh tay khẳng khiu run rẩy níu chặt lấy vạt áo bà ba của ông, thều thào thốt ra một tiếng gọi ngắt quãng xé lòng "Anh… anh Khiêm… phải hôn?"
Ông Khiêm chết lặng giữa gian chòi, toàn thân run rẩy không sao cất nổi thành lời.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
