Chương 18: Ký Ức Thức Giấc

Cơn nghẽn thở bóp nghẹt lồng ngực gầy guộc khiến bà Lài lảo đảo, hai gót chân trần trượt trên gờ đất trơn nhẫy. Thím Ba Đực thất thanh kêu lên một tiếng, lật đật chồm tới vòng tay đỡ ngang nách bà, trong khi Sáu Thuyền từ mé nước nhảy vọt lên bờ dốc, chìa đôi bắp tay rắn chắc đón lấy tấm lưng còng.

"Thở đi bà Dì! Hít sâu vô đa!"

Ông Khiêm dưới đáy hố quên bẵng cơn đau buốt nơi bả vai trái còn rớm máu tươi, hai bàn chân nện vội trên lớp bùn non, lách người qua khung ván xuồng rồi bấu vào mép đất leo lên. Bàn tay thô ráp dính đầy vệt sét xanh của ông run rẩy nắm lấy mấy ngón tay đang co quắp của người xưa. Hơi ấm từ lòng bàn tay già nua truyền qua lớp da lạnh ngắt, ông vuốt nhẹ từ sống lưng vòng qua chấn thủy, giọng trầm đục dỗ dành "Bình tĩnh lại nghen… Có tôi ở đây rồi, đừng hoảng, đừng sợ chi hết."

Một luồng hơi nghẹn ứ bật ra qua bờ môi móm mém thành tiếng ho sặc sụa. Bà Lài chớp chớp hàng mi bạc, ngực phập phồng rồi thở hắt ra được một nhịp dài. Cơn choáng váng qua đi, nhưng ánh mắt mờ đục của bà vẫn không hề dời khỏi đáy hố sâu ba thước mộc. Trước sự chứng kiến của bà con lối xóm đang nín thở dõi theo, bà gạt nhẹ cánh tay nâng đỡ của thím Ba Đực, lần từng ngón tay bấu chặt bờ ván be, rồi run rẩy quỳ sụp xuống mé hố.

Tấm áo bà ba màu tro vá vai rũ xuống nền đất ẩm. Cả thân hình chín mươi lăm tuổi như thu nhỏ lại, phủ phục bên cạnh miệng hố sâu. Ngón tay nhăn nheo, sần sùi củi khô của bà chầm chậm vươn ra giữa khoảng không lộng gió sớm, ngập ngừng rồi chạm nhẹ lên bề mặt Cột mốc số Ba.

Đầu ngón tay bà lần theo từng đường cong uốn lượn của cánh sen đá mài tám cánh. Lớp vữa ô dước trộn bột đá cẩm thạch và vỏ sò mịn màng, mát rượi dưới làn sương sớm, nhẵn thín không một gợn cát thô. Từng đường chỉ hoa văn uốn lượn khum khum ôm lấy nh** h** tròn trịa – nét đục chạm tài hoa của người thợ đắp vữa năm xưa vẫn còn nguyên độ sắc sảo sau hơn sáu thập kỷ nằm sâu dưới tầng đất sét xanh.

Dưới mép cánh sen thứ ba bên tả, ngón tay bà khựng lại khi sờ trúng một vết khắc chìm nhỏ xíu hình chiếc lá bồ đề. Đó là dấu ấn riêng mà chàng thợ trẻ năm xưa chỉ khắc lên những tác phẩm đúc cho người mình thương nhất trần đời.

Ngón tay bà run lên bần bật. Ký ức ngủ vùi suốt bảy mươi sáu năm bỗng chốc như dòng nước lũ cuồn cuộn phá toang con đập rêu phong, ùa về choáng ngợp tâm trí. Đêm rằm tháng Tám năm Mậu Ngọ 1858 bên vàm sông Tiền, chiếc đèn hoa đăng trôi lững lờ trên sóng biếc, chàng thợ Khiêm hai mươi ba tuổi tóc đen nhánh, nụ cười rạng rỡ, chìa bàn tay ấm nóng đón lấy bàn tay cô thôn nữ mười chín tuổi ngượng ngùng nép sau rặng dâm bụt trổ bông. Rồi tiếng súng đồng nổ rền chân trời, khói lửa ngút ngàn, dòng người bồng bế nhau tháo chạy trong đêm loạn lạc, tiếng gọi thất thanh xé lòng chìm nghỉm giữa tiếng sóng gầm gào…

Mọi màng sương mờ mịt của chứng lú lẫn tuổi già bỗng chốc tan biến sạch trơn. Đôi mắt đùng đục của bà Lài bừng sáng lên một ngọn lửa diệu kỳ, trong veo và thăm thẳm như thời hoa niên. Giọt nước mắt già nua đọng nơi khóe mắt đầy vết chân chim bỗng lăn dài, rơi xuống mặt đá mài lấp lánh xà cừ.

Bà ngước lên, nhìn thẳng vào gương mặt già nua với chòm râu dài chấm ngực của người đàn ông đang đứng sát bên mình. Đôi môi run rẩy mấp máy, rồi một tiếng gọi thảng thốt, nghẹn ngào bật ra khỏi cuống họng "Anh Khiêm… Anh Khiêm ơi! Đúng là anh rồi… Chàng thợ Khiêm nặn bông sen đá mài của em năm mười chín tuổi… Trời đất ơi, anh Khiêm!"

Tiếng khóc bật ra nức nở, vỡ òa muôn vàn tủi hờn dâu bể của gần trọn một thế kỷ đơn độc côi cút.

Ông Khiêm bước tới, khuỵu hai gối già nua xuống nền đất nhão, vòng đôi cánh tay gầy guộc ôm trọn lấy đôi bờ vai còng rạp của người xưa. Vạt áo bà ba thô ráp cọ vào vết thương rách da trên bả vai trái đau nhói buốt, nhưng ông chẳng hề hay biết. Lồng ngực ông rung lên từng hồi dữ dội, nước mắt ứa ra ướt đẫm chòm râu bạc như mây trời mùa cạn."Lài ơi… Tôi đây… Khiêm của cô Lài đây rồi!" Ông áp trán mình vào mái đầu bạc phơ của bà, giọng run run nghẹn ngào. "Bảy mươi sáu năm… Tôi tìm được cô rồi… Tôi về giữ bến nước cho cô Lài rồi, hổng ai xua đuổi được bà nữa đâu!"

Hai mái đầu bạc trắng tựa sát vào nhau bên miệng hố sâu ba thước mộc. Một ông lão chín mươi chín tuổi và một bà lão chín mươi lăm tuổi ôm chặt lấy nhau giữa gió chướng bờ nam Sa Giang, trút cạn những giọt lệ chờ đợi đằng đẵng từ thuở thanh xuân xanh mướt cho đến ngày tóc rụng da mồi. Bàn tay chai sần đầy vôi vữa của ông Khiêm vỗ về tấm lưng còng run rẩy, trong khi bàn tay khẳng khiu của bà Lài bấu chặt vào ngực áo ông, như sợ rằng nếu buông ra thì bóng hình chàng thợ năm xưa sẽ lại tan biến vào khói sóng mênh mông.

Cả bến phà Cái Rơm lặng ngắt đi trong niềm xúc động thiêng liêng.

Thím Ba Đực đưa vạt khăn rằn lên chấm nước mắt sụt sùi, nép đầu vào vai chị bạn hàng xóm. Bác Bảy Cảnh buông thõng sợi dây gai tẩm dầu rái trên tay, ngước nhìn lên vòm trời sớm mai mà thở hắt ra một tiếng cảm khái khôn cùng. Đám phu khuân vác, chèo đò dọc và thợ hồ Tân Quy Đông lặng lẽ cởi chiếc nón lá rách trên đầu cầm ngang ngực, mắt ai nấy đều đỏ hoe. Hai mươi bảy nóc nhà sàn nghèo xơ xác quanh năm lam lũ với cọng rau con cá, nay cùng chứng kiến một mối tình sâu nặng hơn cả dòng nước sông Tiền, bền chặt hơn cả lớp đá mài chôn sâu dưới đất sét.

Sáu Thuyền quẹt vội giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen vì nắng gió. Anh hít một hơi thật sâu để nén cơn nghẹn ứ nơi cổ họng, rồi quay sang vỗ vai mấy anh em thanh niên "Anh em… Bác Bảy với bà Dì tìm lại được nhau rồi. Bây giờ tới lượt tụi mình phải giữ cho bằng được cái mốc ranh thiêng liêng này!"

Nghe tiếng Sáu Thuyền, đám trai tráng bừng tỉnh. Bốn thanh niên lực lưỡng ôm từng ôm rơm rạ khô từ gian chòi dỡ dở chạy tới. Dưới sự phân công dứt khoát của Sáu Thuyền, họ khéo léo dùng những tấm ván xuồng dày chắn quanh miệng hố, rồi phủ kín từng lớp rơm rạ đượm mùi nắng lên thân Cột mốc số Ba để bảo vệ mặt đá và dòng chữ Canh Ngọ 1870 khỏi đất cát sạt lở hay ánh nắng gắt gỏng thiêu đốt. Những nhát thuổng cẩn trọng be thêm bờ đất sét con bao quanh mép hố, tạo thành một lũy chắn vững chãi giữa bến sông.

Ông Khiêm chầm chậm đỡ bà Lài đứng dậy. Đôi chân già nua của bà vẫn còn run lẩy bẩy, nhưng ánh mắt đã hoàn toàn tỉnh táo, bàn tay gầy gò nắm chặt lấy bàn tay ông Khiêm không rời một tấc. Ông đưa tay lau nhẹ giọt nước mắt còn đọng trên gò má nhăn nheo của bà, nở nụ cười hiền hậu "Uống ngụm nước ấm rồi ngồi nghỉ nghen Lài. Cọc mốc năm Canh Ngọ đã trồi lên rồi, trời cao có mắt, bọn gian tà không cướp nổi đất này đâu."

Bà Lài gật đầu, bờ môi móm mém mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ như đóa hoa sen nở muộn sau bão giông.

Đúng lúc ấy, từ phía ngả đường lộ lớn đâm thẳng xuống vàm Cái Rơm bỗng vang lên một hồi còi xe hơi chát chúa "Bóp… bóp… pim…!"

Tiếng còi hơi sắc lạnh, xé toạc bầu không khí ấm áp bên bờ sông nước. Bụi đỏ mịt mù bốc lên từ ngọn lộ giới mới rải đá dăm. Một chiếc xe hơi mui trần bóng lộn dẫn đầu đoàn xe kéo của lính tập đang lao vun vút về phía xóm nghèo. Trên thùng xe, bóng dáng béo tốt của Ký Bửu trong bộ âu phục veste lụa đắt tiền chồm hẳn ra phía trước, tay lăm lăm cây batoong bịt bạc chỉ trỏ ngạo mạn. Chuyến xe của đoàn thanh tra Sở Công chính đã kéo tới đầu xóm Cái Rơm sớm hơn dự liệu một ngày.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.