Chương 19: Đơn Kêu Cứu Bến Sa Giang
Chiếc xe hơi mui trần thắng gấp bên mé đường đá dăm, bánh xe nghiến rào rạo làm bụi đỏ bốc lên cuồn cuộn. Chưa đợi bụi lắng xuống, Ký Bửu đã nhảy tót xuống đất, chiếc bụng phệ nung núc rung rinh dưới lớp áo veste lụa đắt tiền. Hắn vung vẩy cây batoong bịt bạc, mặt mày hầm hố quát tháo om sòm "Lính đâu! Mau bao vây cái mé rạch này lại cho qua! Tụi dân đen này dám lén lút đào bới lung tung, toan phá hoại lộ giới của nhà nước! Lấp đất lại ngay, đứa nào cản đường cứ việc lấy báng súng nện thẳng tay!"
Bốn tên lính tập bồng súng trường gắn lưỡi lê sáng loáng rầm rập rảo bước xuống triền dốc, họng súng đen ngòm chĩa thẳng về phía hố đào Cột mốc số Ba. Sau lưng chúng, sáu tên phu phen vác mai cuốc lăm lăm chạy tới, toan xông vô xúc đất lấp vùi hoa văn đá mài vừa phát lộ.
Thế nhưng, bước chân của đám lính khựng lại ngay mép mương.
Từ khắp các nẻo đường đất, con hẻm nhỏ của xóm Cái Rơm, người người túa ra ken đặc như nêm. Hơn bốn mươi con người của hai mươi bảy nóc nhà sàn, từ cánh thợ hồ Tân Quy Đông bắp tay rắn như gỗ lim, đám phu khuân vác, chèo đò dọc của Sáu Thuyền, cho tới các bà nội trợ, trẻ nhỏ… tất cả tay nắm chặt tay nhau, đan thành một bức tường người vững chãi chắn ngang mé bờ rạch.
Sáu Thuyền đứng chắn ngay trước lối mòn, hai tay vung chiếc dầm chèo gỗ sao ngang ngực, mắt trợn trừng nảy lửa "Bước qua đây coi! Thằng nào dám đụng tới một hòn đất của xóm này, tao liều mạng chèo tới cùng!"
Thím Ba Đực lăm lăm chiếc đòn gánh tre già, cất tiếng the thé vang dậy cả góc trời "Mấy người ăn cơm nhà nước mà làm chuyện tán tận lương tâm! Cọc mốc của ông bà để lại rành rành dưới đó, toan lấp đi để cướp đất cho Chệt Lợi hả? Bà con đâu, giữ chặt bến sông, hổng cho đứa nào bước qua!"
Tiếng mâm đồng, thùng thiếc lại khua lên rộn rã, tiếng la ó dậy sóng bờ nam Sa Giang làm đám phu phen chùn chân, ngơ ngác nhìn nhau không dám tiến thêm nửa bước. Ký Bửu tím tái mặt mày, cây batoong trong tay run lên bần bật "Mấy người… mấy người tính làm loạn hả? Có tin qua kêu quan trên khép tội làm phản không?"
"Thầy Ký đừng có cậy quyền chụp mũ dân lành!"
Một giọng nói trầm đục, đanh thép cất lên từ phía sau bờ ván xuồng. Dân làng tự khắc dạt ra hai bên nhường lối.
Ông Nhâm Vĩnh Khiêm tay chống cây gậy tre đực, lưng thẳng tắp, từng bước đĩnh đạc bước ra mé bậu rạch. Bả vai trái của ông còn vệt máu tươi thấm qua lớp vải thô sau một đêm dầm mình chống bão ngâm nước lạnh, nhưng phong thái quắc thước, đôi mắt sáng tinh tường của người thợ bách nghệ cả đời gắn bó với đất đai sông nước khiến đám lính tập bất giác hạ nòng súng xuống một tấc.
Bên cạnh ông, bà Nguyễn Thị Lài một tay đỡ nhẹ cùi chỏ người xưa, một tay nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của ông Khiêm. Trên gương mặt già nua chín mươi lăm tuổi hằn sâu nếp nhăn thời gian, đôi mắt đùng đục nay đã bừng lên nét kiên định lạ thường, chẳng còn chút run rẩy hay ngơ ngác sợ sệt của những ngày bệnh tật lẫn lộn. Bà đứng hiên ngang bên ông Khiêm trước mũi súng, lưng còng rạp mà ý chí son sắt tựa rặng dừa nước bám rễ sâu nơi vàm rạch.
"Cô Lài đứng đây với tôi," ông Khiêm khẽ siết nhẹ bàn tay bà, giọng dịu dàng rồi quay phắt sang nhìn trừng trừng vào mặt Ký Bửu: "Cọc mốc lộ thiên đây rồi. Trời đất còn đó, mắt người còn đây, thầy Ký bảo ai phá hoại lộ giới?"
Ký Bửu nuốt nước miếng đánh ực, gượng gạo quát "Lão già gần đất xa trời như mầy biết cái giống gì! Bản đồ trắc địa của Sở Công chính phân ranh rành rành trên giấy tờ, cái hố đất dơ dáy này chỉ là tảng đá mục trôi sông, mầy dám đem ra lòe thiên hạ hả?"
"Đá mục hay cột mốc của triều đình, để thước tấc phân xử!"
Ông Khiêm quay sang gật đầu với Sáu Thuyền. Sáu Thuyền liền đưa cuộn dây gai già tẩm dầu rái màu nâu sẫm cho ông. Ông Khiêm khom lưng dỡ mấy lớp rơm rạ đượm mùi nắng che trên mặt hố đào sâu ba thước mộc. Đóa sen đá mài tám cánh cùng hàng chữ Canh Ngọ 1870 lộ ra láng bóng, vỏ nghêu sò lấp lánh dưới ánh nắng mai rực rỡ.Bác Bảy Cảnh lội xuống đáy hố, móc đầu dây dọi có móc đồng móc chặt vào tâm đóa sen đá. Ông Khiêm cùng Sáu Thuyền cầm đầu dây gai còn lại, căng thẳng tắp kéo ngược lên mé bờ lộ, dóng một đường chuẩn xác về hướng cội đa cổ thụ ngút ngàn của chợ Cây Da Dầu bên kia vàm sông.
Sợi dây gai tẩm dầu rái căng như dây đàn, cắt ngang qua hàng cọc tiêu sơn đỏ mà Ký Bửu cho cắm hôm trước. Khoảng cách lệch chuẩn hiện ra mồn một trước mắt mọi người: đúng năm trượng mộc hướng sâu vào bãi bồi lòng sông.
"Mấy chú lính tập coi cho kỹ!" Ông Khiêm chỉ tay vào sợi dây gai, tiếng rổn rảng vang xa: "Cột mốc Canh Ngọ 1870 do chính tay tôi đúc và hạ cọc theo chỉ dụ đo đạc của quan nha thời trước. Lòng sông Sa Giang dẫu bồi lở, nhưng cội đa Cây Da Dầu và tim mốc đá mài cắm sâu tầng sét xanh này sáu mươi bốn năm qua chưa từng dịch chuyển một phân! Thầy Ký bẻ cong tim lộ năm trượng đâm thẳng vô ruột xóm Cái Rơm, chừa bãi bồi ngoài kia cho ai, lương tâm thầy tự biết!"
Bà con xóm phà ồ lên phẫn nộ. Đám lính tập nhìn sợi dây dóng thẳng tắp rồi nhìn nhau ái ngại, ngón tay run run rời khỏi cò súng.
Đúng lúc đó, từ sau chiếc xe hơi bước xuống một người đàn ông lớn tuổi mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề, tay ôm tráp gỗ nhỏ. Đó là thầy ký Phan, một thư lại kỳ cựu, thanh liêm của tòa bố Sa Đéc vừa về hưu, được bác Bảy Cảnh lặn lội đón sang từ mờ sáng. Thầy ký Phan đẩy gọng kính lão, chầm chậm bước lại mé hố đào.
Nhìn thấy đóa sen đá mài và những nét chữ Nho, chữ Quốc ngữ khắc chìm sắc sảo trên mặt đá, thầy ký Phan xúc động thốt lên "Đúng là dấu tích địa bạ năm Canh Ngọ rồi! Nét khắc này trùng khớp hoàn toàn với bản đồ cổ lưu trữ ở tòa bố tỉnh lỵ!"
Ký Bửu hốt hoảng toan chạy lại giằng lấy tráp gỗ "Thầy Phan! Việc này thuộc thẩm quyền của Sở Công chính, thầy là người ngoài cuộc, không được xen vô!"
"Tôi không xen vô quyền hạn của quý sở," thầy ký Phan đanh giọng đáp, "nhưng tôi có trách nhiệm ghi nhận sự thật theo thỉnh cầu của hai mươi bảy hộ dân lương thiện!"
Nói đoạn, thầy ký Phan trải tờ giấy bản dày cộp lên nắp tráp gỗ, mài mực nho đen nhánh. Thầy cẩn thận dùng giấy bản áp lên mặt Cột mốc số Ba, dập nổi lại từng nét chữ Canh Ngọ 1870 cùng hoa văn đóa sen non, rồi tỉ mỉ ghi lại số đo năm trượng mộc chênh lệch giữa cọc tiêu gian lận và tim mốc thật vào bản Đơn kêu cứu khẩn cấp của xóm Cái Rơm.
Từng người dân xóm phà lần lượt bước lên, chấm ngón tay dính mực đỏ ấn dấu chỉ vào góc tờ đơn.
Bà Lài nắm lấy bàn tay gầy guộc của ông Khiêm, ánh mắt chan chứa niềm tin tưởng và thương yêu "Anh Khiêm… Mình giữ được bến sông rồi phải hôn anh?"
Ông Khiêm khẽ mỉm cười, ánh mắt ấm áp nhìn người bạn đời thuở hoa niên "Phải rồi cô Lài. Đất của ông bà, mồ hôi nước mắt của bà con, không ai cướp trắng trợn được đâu."
Ngay khoảnh khắc ngón tay mang vệt vôi vữa của ông Khiêm vừa ấn dấu chỉ đỏ chót xuống chân tờ đơn, một chiếc xe kéo thứ hai từ ngả tỉnh lỵ bất ngờ hớt hải chạy xộc tới bến phà. Một viên thanh tra người Pháp của Sở Công chính bước xuống, nét mặt nghiêm nghị lạnh lùng, tay cầm cặp da có con dấu nổi của Tòa Khâm sứ.
Viên thanh tra rảo bước tới bên hố đào, lạnh lùng liếc nhìn Ký Bửu đang run như cầy sấy rồi nhìn xuống Cột mốc số Ba nguyên vẹn dưới tầng sét xanh. Sau khi xem xét tờ biên bản dập mực của thầy ký Phan và đối chiếu với bản đồ trắc địa gốc trong cặp, viên thanh tra rút ra một tờ công văn có đóng triện đỏ tươi, dõng dạc tuyên đọc bằng tiếng Tây rồi được người thông ngôn dịch lại rành rọt "Lệnh đình chỉ ngay lập tức mọi hoạt động dỡ nhà, giải tỏa tại xóm Cái Rơm kể từ giờ phút này để mở cuộc điều tra sai phạm lộ giới. Đồng thời, triệu tập đích danh thầy Ký Trương Văn Bửu và nghệ nhân lão thành Nhâm Vĩnh Khiêm có mặt tại dinh Tỉnh trưởng Sa Đéc vào đúng tám giờ sáng ngày mai để tiến hành đối chất công khai!"
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
