Chương 6: Vệt Than Bí Ẩn Sau Bụi Tre

Bàn tay thô ráp ghì chặt lấy bả vai khiến An giật thót, toàn thân cứng đờ. Cậu toan há miệng kêu cứu thì một bàn tay khác đã nhanh như chớp bịt ngang miệng cậu, kéo giật cậu lùi sâu vào trong bóng râm ẩm ướt của bụi tre gai.

— Khẽ chứ, An! Bác đây!

Một giọng nói trầm đục, quen thuộc vang lên bên tai. Mùi lá trầu không lẫn với mùi mồ hôi chua nồng phả vào sống mũi. An ngước mắt nhìn lên. Dưới ánh trăng non mờ mờ lọt qua kẽ lá tre, gương mặt vuông chữ điền rậm râu của bác Phó Cả Dần hiện ra, đôi mắt trũng sâu lộ rõ vẻ hốt hoảng và bối rối khôn cùng. Bác Dần mặc chiếc áo cộc chàm đã sờn rách hai bên nách, thắt lưng buộc vội manh chiếu rách để chống rét, một tay cầm chiếc gậy tre dùng đi tuần đê đêm.

Bác Dần buông tay khỏi miệng An, vội vã dắt cậu thụp xuống sau móng đá ong, mắt lấm lét ngó nghiêng ra phía sân đình hoang tàn — Mày to gan quá con ạ! Nửa đêm nửa hôm còn mò ra đây làm gì? Tuần đinh hay người của thằng lái Lợi mà bắt được thì rũ tù chứ chẳng chơi!

An khẽ rụt bàn tay còn quấn băng vải nâu sồng nhức buốt, chỉnh lại dải yếm, đôi mắt tròn xoe nhìn thẳng vào người thợ in dập — Bác Dần... Cháu ra tìm xem rốt cuộc ai đã châm lửa đốt ván tổ của làng. Cụ cố cháu bảo mùi khói hôm ấy khét lẹt, chẳng giống mùi gỗ thị chút nào.

Vừa nghe đến hai chữ "ván tổ", khóe mắt bác Dần giật thắt lại một cái. Bác bối rối cúi gằm mặt, hai bàn tay quấn giẻ rách lóng ngóng xoa vào nhau. Cử chỉ ấy làm lộ ra những mảng da thịt đỏ ửng, phồng rộp vì thứ than bùn độc địa mà ban chiều bé Mận vừa khóc kể.

Bác Dần thở dài sườn sượt, ngập ngừng thò tay vào trong bọc áo, rút ra một vật nhỏ dúi vội vào tay An — Mày đừng tìm nữa. Đây... cầm lấy cái này rồi về ngay xưởng với cụ Nhượng đi!

An cúi nhìn. Đó là một mẩu bùi nhùi bện bằng rơm nếp cháy dở, dài chừng nửa gang tay. Rơm không chỉ bén lửa đơn thuần mà còn đượm một chất keo đen quánh, dinh dính, bốc lên mùi dầu trẩu nồng nặc quyện chặt với bột than đen kịt và mùi lưu huỳnh ngai ngái, hôi hắc đến nhức óc. Thứ mùi này giống hệt mùi tro tàn vương bên tường hồi đình làng sáng hôm trước.

— Cái này... bác nhặt được ở đâu? — An bàng hoàng siết chặt mẩu rơm vụn.

Bác Dần cắn chặt môi dưới, giọng nghẹn lại — Hồi chập tối, lúc đi tuần ngang qua bờ rào sau đình, bác thấy nó nằm vướng trong hốc rễ tre gai, ngay cạnh mấy dấu chân giày da mới toanh còn in trên đất ướt. Người làng mình quanh năm chỉ đi chân đất hoặc dép bện rơm nếp, lấy đâu ra giày da láng bóng như lũ người phố huyện...

— Thế sao bác không đem nộp cho Lý trưởng? — An hỏi dồn, ngực phập phồng phẫn nộ. — Sao bác không đưa ra giữa đình để vạch mặt kẻ đã đang tâm thiêu rụi bảo vật trăm năm?

— Vạch mặt ai? — Bác Dần bỗng gắt khẽ, giọng cay đắng cùng cực. — Đặng Khoái ngậm bạc của thằng lái Lợi kín miệng rồi, mày tố ai được? Con ơi, nhà bác mẹ già ốm liệt giường, bốn đứa con nheo nhóc húp cháo loãng qua ngày. Bác biết thứ tranh bổi ấy là rác rưởi, bàn tay bác vừa chạm vào đã lở loét buốt rát, nhưng người nghèo thì lấy đâu ra tiếng nói giữa chốn công đường? Bác đưa cho mày mẩu bùi nhùi này là muốn mày hiểu: chuyện này hiểm độc lắm! Đừng bới móc thêm nữa, cụ cháu mày mà chọc giận chúng nó thì chuốc vạ vào thân, có khi mất mạng chứ chẳng đùa đâu con ơi!

Nhìn dáng vẻ sợ sệt, co ro của người thợ tài hoa từng một thời oanh liệt dập ván in tranh cho cả làng, An thấy quặn thắt cõi lòng. Cậu giằng mạnh mẩu bùi nhùi lại, ngẩng cao đầu, ánh mắt rực sáng:— Bác Dần! Ngày cha cháu còn sống, cha vẫn hay bảo với cháu rằng: "Người thợ khắc làng Mái ăn hạt gạo của đất, cầm con dao của trời, sống phải thẳng như đường đục ngô, bụng dạ phải sáng như sắc điệp". Cha cháu và ông nội chết trong dòng nước lũ vỡ đê, nhưng đến chết vẫn ôm khư khư mảnh ván in giữ cho dân làng. Bác từng là học trò của con trai cụ cố cháu, bác học nghề từ người nhà họ Biền, lẽ nào bác nỡ để danh dự làng nghề chìm nghỉm trong mấy thỏi bạc tanh tưởi của phường gian thương?

Từng lời nói non nớt mà đanh thép như mũi đục gõ thẳng vào lương tri người thợ già. Bác Dần chết lặng giữa bóng tối. Bờ vai vạm vỡ của bác khẽ run rẩy, đôi mắt đỏ hoe ngấn nước. Bác nghẹn ngào quay mặt đi, không dám nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của đứa trẻ mười hai tuổi. Một lúc lâu sau, bác chỉ biết đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang khóe mắt, khàn khàn thốt lên — Bác... bác có tội với cụ Cả... có tội với thầy bác dưới suối vàng... Thôi, con mau về đi, sương xuống lạnh lắm rồi!

Nói đoạn, bác Dần quay ngoắt người, vác chiếc gậy tre lầm lũi rảo bước về phía triền đê hun hút gió bấc, bóng dáng xiêu vẹo lẫn dần vào màn sương đen kịt.

An cẩn thận bọc mẩu bùi nhùi vào vạt áo, lẳng lặng men theo bờ rào tre trở về xưởng tranh.

Trong gian buồng tối ấm sực mùi khói rơm hun, đĩa đèn dầu lạc tỏa ánh sáng vàng dịu soi rõ bóng cụ Biền Duy Nhượng đang ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre. Cụ không ngủ, đôi mắt đùng đục dõi ra phía cửa như chờ đợi. Thấy chắt nội bước vào với hơi lạnh buốt giá bám đầy manh áo, cụ khẽ thở dài, nhưng ánh mắt tràn ngập bao dung.

An bước đến bên mép chõng, đặt mẩu bùi nhùi dính dầu trẩu và bột lưu huỳnh lên bàn, khẽ thưa lại toàn bộ sự tình vừa gặp bác Dần. Cụ Nhượng nâng mẩu rơm cháy dở lên mũi ngửi, đôi mày bạc hơi chau lại rồi trầm ngâm gật đầu — Dạ con người ta một khi đã mờ mắt vì tiền tài thì chuyện tàn nhẫn nào cũng dám làm. Bác Dần nó còn biết day dứt là gốc thiện vẫn chưa mất. Cái gốc ấy, sớm muộn gì cũng sẽ nảy chồi con ạ.

Cụ Nhượng với tay mở chiếc hòm gỗ sơn then cũ kỹ đặt đầu giường, thận trọng rút ra một cuộn giấy bản ngả màu vàng ố vì thời gian. Đó là tấm bản đồ cổ của phủ Thuận Thành vẽ từ thời cha ông cụ để lại, trên mặt giấy ghi chép chi tiết từng doi cát, bến sông, gò bãi của dòng sông Đuống.

Cụ Nhượng chong ngọn đèn dầu lại gần, bàn tay gân guốc miết nhẹ lên mặt giấy bản. Cụ chỉ cho An một khúc uốn lượn son đỏ phía hạ lưu làng Mái — Con nhìn xem, đây là gò Đống Sòi. Trận đại hồng thủy năm Giáp Thìn năm ấy, dòng sông Đuống hung dữ xé toang bờ đê, đất lở trôi sông, chôn vùi cả một dải rừng thị ngàn năm của phủ. Người ta cứ ngỡ rặng cây đã biến mất, nhưng thực chất phù sa bồi đắp tầng tầng lớp lớp đã giữ cho thân gỗ nằm sâu dưới đáy bùn sét, không bị nắng gió làm nứt nẻ.

Ngón tay cụ dừng lại ở một điểm trũng hình cánh cung sát mép ngấn nước — Mờ sáng mai, khi con nước rút cạn, ta sẽ nhằm hướng ngọn núi Thiên Thai phía xa làm mốc, men theo doi đất cong này mà đào. Chỉ cần chạm tới thớ đất sét xám mịn, ắt sẽ tìm thấy gốc thị năm xưa!

An chăm chú nhìn theo từng nét vẽ cổ kính, lòng dạ phơi phới niềm tin. Hai cụ cháu cẩn thận cuộn tấm bản đồ cất lại vào tráp gỗ, chuẩn bị sửa soạn xẻng sắt và đòn tre cho chuyến lội bãi sớm mai.

Bất thình lình, từ ngoài ngõ rào vang lên tiếng "sột soạt" rất khẽ của bước chân dẫm lên đống lá chuối khô.

An giật mình tắt vội đĩa đèn dầu. Căn nhà lập tức chìm vào bóng tối đặc quánh. Qua khe liếp nứa gian đông, An nín thở ghé mắt nhìn ra ngoài cổng. Dưới ánh trăng suông lạnh ngắt, hai bóng người to béo, đầu chít khăn thâm trùm kín mặt đang thập thò bên bờ giậu. Một gã nhổ toẹt bãi nước trầu cay xè xuống đất, cất giọng the thé nhưng đầy vẻ đe dọa, cố ý nói với vào trong sân — Liệu hồn mà nằm yên trong ổ ấm, lão già lẩm cẩm! Cả làng này đã theo chân cụ Lợi sang phố huyện ăn lộc. Cụ cháu nhà mày mà dám bén mảng ra bãi bồi gò Sòi phá mối làm ăn của quan trên, thì cái xưởng tranh rách này đừng hòng còn một cọng rạ đón Tết!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.