Chương 4: Cám Dỗ Giữa Sân Đình

Hồi trống lệnh ba hồi chín tiếng vừa dứt, âm ba trầm đục còn rền rĩ dội vào vách đất gian nhà đông. Gió bấc thốc qua rặng tre ngà thổi tung tà áo nâu vá vai của cụ Biền Duy Nhượng. Cụ khẽ thở dài, tay chống chiếc gậy tre đực đã nhẵn bóng, tay kia nắm lấy bàn tay quấn vải nâu của chắt An — Đi thôi con, ra xem đầu đình người ta muốn xoay vần cái làng này ra sao.

Hai cụ cháu rảo bước theo con ngõ gạch. Sân đình làng Mái buổi sớm đầu đông hãy còn vương vất mùi khét lẹt của gỗ cháy và tro tàn. Mảnh sân lát gạch Bát Tràng đỏ au mọi bận phong quang, nay phủ một lớp muội than xám xịt chưa kịp dọn. Giữa khoảng sân trống, mấy chiếc chiếu hoa trải vội bên thềm đình đổ nát đã chật ních người. Phường thợ tranh, thợ in, thợ hồ tề tựu đông đủ, ai nấy co ro trong manh áo cộc, mặt mày ủ rũ hoang mang.

Ngồi chễm chệ ở chiếu trên là Lý trưởng Đặng Khoái với bộ áo the xanh và dáng vẻ bồn chồn. Ngay cạnh lão, thương nhân Quản Lợi ung dung phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng dẫu trời lạnh thấu xương. Gã mặc áo the thâm lụa bóng, cổ tay tròn lẳn, mấy ngón tay phốp pháp đeo nhẫn ngọc sáng lóa. Trước mặt hai kẻ ấy, trên chiếc mâm đồng lớn, xếp la liệt từng thỏi bạc trắng ngời sáng lóa mắt cùng hàng chục cuộn giấy bổi dày cộp xám xỉn, bốc lên mùi hôi nồng nặc của phẩm than bùn tẩm lưu huỳnh hăng hắc.

Thấy cụ Nhượng dắt chắt bước vào cổng đình, đám đông xôn xao rẽ lối. Lý trưởng Đặng Khoái vội vã đứng dậy, chắp tay gượng gạo — Kìa, cụ Cả Mái đã ra. Mời cụ lên chiếu trên tọa vị để làng cùng bàn việc lớn.

Cụ Nhượng không lên chiếu trên, chỉ đứng dừng lại ở mép sân đình, nơi ranh giới giữa những người thợ áo nâu và đống bạc lụa hào nhoáng. Đôi mắt quắc thước lướt qua gương mặt từng người thợ trong phường. Ở hàng đầu, bác Phó Cả Dần ngồi bó gối, đầu cúi gằm. Bắp tay cuồn cuộn dính đầy màu chàm của bác đang run rẩy, mấy đầu ngón tay cứ vân vê vạt áo rách. Nhà bác bốn miệng ăn nheo nhóc, mẹ già lại đang liệt giường vì chứng đau khớp cắn rút từng cơn khi gió bấc về. Vài xâu tiền kẽm Quản Lợi dúi vào tay hồi sớm như hòn than nóng rẫy đang nướng chín ruột gan người thợ giỏi nhất nhì vùng này.

Quản Lợi nhấp một ngụm trà đặc, khẽ tằng hắng một tiếng rồi cất giọng trơn tru, ngọt nhạt — Thưa toàn thể các bác, các chú thợ làng Mái. Đình làng ngộ hỏa, bộ ván tổ trăm năm cháy thành tro, ấy là cái hạn trời giáng, chẳng ai muốn. Nhưng rằm tháng Chạp cận kề rồi, phiên chợ Tết bến sông chỉ còn non một tháng nữa. Nay không còn ván mộc bản gỗ thị, làng lấy gì đem bán cho khách buôn Thăng Long, Phố Hiến? Chẳng lẽ chịu chết đói cả đám hay sao?

Gã vỗ tay bôm bốp vào mâm bạc trắng, mắt đảo lia lịa — Tôi là chỗ thân tình với làng, không nỡ thấy các bác lâm vào bước đường cùng. Mười thuyền giấy bổi và mấy chục thúng bột than mịn tôi đã chở sẵn cập bến sông. Ván gỗ tạp khắc nét thô tôi cũng thuê thợ mộc phố huyện đục sẵn cả rồi. Các bác chẳng cần cực nhọc quấy hồ nếp, chẳng cần đãi sỏi son hay nghiền vỏ điệp cho toét mắt. Cứ việc dập mực than lên giấy bổi, phơi khô là tôi thu mua hết, trả tiền tươi thóc thật, công xá gấp đôi ngày thường. Bác nào ưng thuận thì bước lên nhận bạc!

Lời dụ dỗ như rót mật vào tai kẻ túng bấn. Mấy người thợ trẻ nhìn đống thỏi bạc trắng mà nuốt nước bọt ừng ực. Bác Phó Cả Dần ngẩng phắt lên, mắt đỏ ngầu, giọng nghẹn ứ giằng xé — Thưa cụ Biền, thưa các cụ... Con biết tranh giấy bổi không phải thói nhà nghề... Nhưng con bé Mận với mấy đứa nhỏ ở nhà mấy bữa nay toàn húp cháo loãng. Mẹ già con thì rên xiết suốt đêm vì rét buốt không có thuốc thang. Không làm thì lấy gì sống qua tuần tiết này đây cụ ơi...

Tiếng thở dài não nuột lan khắp sân đình. Nhiều người thợ rục rịch muốn cất bước tiến về phía mâm bạc.Đúng lúc ấy, chiếc gậy tre trong tay cụ Biền Duy Nhượng gõ mạnh xuống nền gạch Bát Tràng.

“Cộc!”

Một tiếng gõ đanh gọn vang lên giữa không gian im ắng. Cụ Nhượng chầm chậm bước lên một bước, lưng cụ dẫu còng vì tuổi tác tám mươi tám nhưng lúc này đứng sừng sững như gốc lim già đầu bãi. Đôi mắt tinh anh của cụ nhìn thẳng vào mặt Quản Lợi, giọng trầm ấm mà đanh thép — Anh lái Lợi, chú đừng đem bạc trắng ra mà che mờ mắt người làng Mái! Tôi hỏi chú, tranh làng Mái từ đời các cụ tổ truyền lại dựa vào cái gì mà nức tiếng gần xa? Là nhờ giấy dó quét điệp lấp lánh như dát xà cừ, nhờ màu đỏ son núi, màu vàng hoa hòe, màu đen rơm nếp hun khói tinh khôi. Người mua tranh đón Tết là để rước cái phúc, cái đức, cầu cho năm mới vinh hoa phú quý, con cháu phương trưởng ấm no!

Cụ giơ ngón tay khẳng khiu chỉ thẳng vào những cuộn giấy bổi xám xịt trên mâm — Còn cái thứ tranh chú đem đến là cái gì? Giấy bổi rơm mục ngâm vôi tẩy trắng, phẩm than bùn tanh tưởi tẩm đầy lưu huỳnh hăng hắc! Thứ bột độc hại ấy chỉ cần quệt vào da thịt là mẩn ngứa, lở loét. Chú rắp tâm đem cái thứ tranh bẩn thỉu, hôi hám ấy bán ra cho trẻ nhỏ ôm vào lòng, cho người ta treo trong nhà đón xuân, chú không sợ tổn phúc bôi gio trát trấu vào mặt tổ tiên hay sao? Bàn tay thợ làng Mái đời đời làm đẹp cho đời, không thể vì mấy thỏi bạc mà đi làm cái việc thất đức ấy!

Lời cụ Nhượng như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt kẻ buôn gian. Đám thợ làng giật mình đứng khựng lại, xì xào bàn tán. Bác Phó Cả Dần rụt ngay bàn tay đang vươn ra, mặt tím tái vì xấu hổ.

Bị bóc trần mưu mô giữa thanh thiên bạch nhật, nụ cười giả lả trên mặt Quản Lợi lập tức biến mất. Gã hất mạnh tà áo the, đứng bật dậy, mặt đỏ gay vì tức tối — Cụ Biền! Cụ đừng cậy tuổi cao mà nói càn! Đạo lý của cụ có đem ra đong gạo nấu cháo được không? Cụ chê giấy bổi của tôi, vậy cụ nhìn lại xem cái đình này còn lại gì? Ván tổ bằng gỗ thị trăm năm đã cháy thành than vụn rồi! Gỗ thị dẻo mịn ngâm nước phù sa cả chục năm trời mới dùng được, bây giờ cụ đào đâu ra gỗ thị? Cụ lấy đâu ra thời gian mà đục lại đủ bộ ván in trước ngày rằm tháng Chạp? Cụ không theo tôi thì cả cái làng Mái này Tết này chỉ có nước bốc tro mà ăn!

Không gian sân đình bỗng chốc lặng ngắt như tờ. Từng lời cay độc của Quản Lợi như mũi dao chọc trúng nỗi sợ hãi lớn nhất trong lòng phường thợ. Đúng thế, không có ván tổ, lấy gì mà in tranh?

Giữa sự bế tắc tột cùng ấy, cụ Biền Duy Nhượng không hề nao núng. Cụ cúi xuống, nắm thật chặt bàn tay quấn vải nâu của chắt An. Hơi ấm từ bàn tay non nớt của đứa chắt nội như truyền thêm ngọn lửa kiên định vào lồng ngực cụ già bách niên.

Cụ Nhượng ngẩng cao đầu, ánh mắt rực sáng nhìn khắp lượt dân làng, rồi cất giọng vang rền, sang sảng át cả tiếng gió bấc gầm gào — Ai bảo ván tổ mất thì nghề tranh phải chết? Gỗ thị dẫu cháy thành tro nhưng hồn tranh vẫn nằm trong lòng bàn tay người thợ! Già này tám mươi tám tuổi, còn một hơi thở cũng không để tổ nghề hoen ố! Trước mặt thành hoàng và toàn thể bà con làng Mái, tôi xin cam kết: Từ nay đến ngày rằm tháng Chạp, già này cùng chắt An sẽ tự tay tìm lại thớ gỗ thị chuẩn mực, dốc hết tâm lực đục lại trọn bộ ván "Vinh Hoa Phú Quý" để làng kịp có tranh điệp óng ánh ra mắt phiên chợ Tết!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.