Chương 3: Mảnh Ván Khắc Tàn Tro
Tiếng bước chân chậm rãi của cụ cố dừng lại trước thềm đất nện. Biền Văn An co rúm người bên cối đá giã điệp, mười đầu ngón tay buốt rát như phải bỏng. Những giọt máu tươi rỉ qua kẽ móng nhem nhuốc muội than rỏ từng giọt xuống nền đất ẩm. Cậu muốn giấu nhẹm thứ đang ghì chặt sau lưng, nhưng nhìn bóng dáng gầy guộc của cụ Nhượng đứng ngược chiều gió bấc rít từng cơn, cổ họng thằng bé nghẹn ứ.
Cụ Nhượng chống cây gậy tre, run rẩy bước lại gần rồi quỳ một chân xuống bên cạnh đứa chắt mồ côi. Bàn tay già nua khô ráp như vỏ cây thị của cụ khẽ nâng cánh tay cậu lên. Giọng cụ ấm trầm, run run trong làn mưa phùn buốt giá — Chắt An… tay con làm sao thế này? Con giấu cái gì sau lưng đấy?
An cắn chặt môi đến bật máu, ngực phập phồng nghẹn ngào. Cậu từ từ đưa hai cánh tay run rẩy ra phía trước. Trong lòng bàn tay trầy xước toạc da toạc thịt, một mảnh gỗ nhỏ chỉ bằng nửa bàn tay người lớn, bốn cạnh xém đen vì lửa ngún hiện ra. Dù muội than bám dày, nhưng thớ gỗ thị màu vàng ngà óng ả vẫn lộ rõ dưới ánh sáng xám xịt của buổi sớm mùa đông.
Trên bề mặt mảnh ván cháy dở ấy, những đường khắc tinh xảo vẫn vẹn nguyên: một nửa gương mặt chú bé bụ bẫm với vầng trán rộng, khóe môi khẽ chúm chím mỉm cười thanh tú, bên dưới là chỏm mào đỏ rực của chú gà trống thiến.
— Cụ ơi… — Giọng An vỡ òa, nước mắt giàn giụa cuốn trôi những vệt than đen trên má. — Lúc nãy tàn lửa vừa lặng, con lén lách qua hàng rào tre chui vào đống tro sau đình. Con bới trong khe máng nước góc hồi đông, thấy mảnh này lọt dưới viên ngói vỡ… Đây là ván nét của bức “Vinh Hoa” cụ ơi!
Cụ Nhượng sững sờ. Đôi bàn tay cụ run bắn, run đến mức cây gậy tre rơi khẽ xuống nền đất nện mà cụ cũng chẳng hề hay biết. Cụ đón lấy mảnh gỗ thị từ tay chắt nội, nâng niu như đón lấy một hài nhi. Cụ đưa ngón tay cái chai sần khẽ miết lên từng đường lượn mềm mại trên gương mặt đứa trẻ khắc gỗ. Lớp gỗ thị dẻo quánh, không một vết nứt nẻ dù vừa trải qua lửa đỏ, phảng phất mùi thơm ngai ngái quen thuộc của tổ nghề.
Nhìn cụ cố lặng đi bên mảnh gỗ, An không cầm được lòng, ôm chầm lấy đầu gối cụ mà khóc nấc lên — Con có lỗi với cụ, có lỗi với ông nội và thầy con… Đêm qua con mải ngủ vùi trong ổ rơm nếp. Đến lúc nghe tiếng mõ báo cháy thì lửa đã bén ngập nóc đình rồi. Giá như con thức giấc sớm hơn, giá như con chạy ra đình ngay từ canh ba thì đã kịp bưng chiếc rương gụ ra ngoài… Bảy năm trước, lúc nước lũ tràn bờ đê cuốn trôi cả nhà, thầy con trước khi chìm xuống dòng nước xiết vẫn dặn con phải sống để giữ lấy cái nghề khắc ván… Thế mà con lại để ván tổ cháy mất rồi!
Tiếng khóc của đứa trẻ mười hai tuổi xé toạc không gian quạnh quẽ của gian nhà tranh. Nỗi dằn vặt tích tụ suốt từ đêm qua khiến bờ vai gầy của An run rẩy từng hồi kịch liệt.
Cụ Nhượng không quở mắng một lời. Cụ kéo An vào lòng, ôm chặt lấy đứa chắt bé bỏng. Bàn tay cụ dịu dàng v**t v* mái tóc khét mùi khói rạ của cậu, rồi khẽ lau đi những giọt nước mắt hòa lẫn than đen trên đôi gò má bánh mật — Nín đi con, chắt An của cụ ngoan nào. Trời đổ lửa ngộ biến khôn lường, con mới ngần ấy tuổi đầu thì làm sao ngăn nổi tai ương. Đừng tự trách mình nữa. Con xem, trong tro tàn lửa đỏ, tổ nghề vẫn thương tình để lại cho cụ cháu mình nụ cười của đứa bé ôm gà này đây.
Cụ Nhượng vịn vai An đứng dậy. Cụ dắt cậu bước vào gian nhà chính ba gian vách đất trát rơm. Trước bàn thờ tổ nghề đơn sơ, nơi đặt bài vị của các bậc tiền bối làng Mái, cụ kính cẩn đặt mảnh ván khắc xém cạnh lên chiếc đĩa đồng han gỉ. Cụ châm một nén hương trầm, làn khói thơm bảng lảng tỏa ra, xua bớt cái giá buốt đang luồn qua liếp nứa.
Cụ Nhượng chắp tay vái lạy ba vái, rồi quay sang nhìn An, ánh mắt quắc thước rực lên một niềm tin sắt đá — Con có nhớ thầy con ngày trước từng dạy con điều gì không? Gỗ thị dẫu cháy thành tro thì cái hồn của tranh vẫn nằm trong lòng bàn tay người thợ. Đục cùn thì mài, ván mất thì ta tìm gỗ đục lại. Chỉ sợ lòng người nguội lạnh, tham bát bỏ mâm mà bôi bẩn danh tiếng tổ tiên. Chừng nào ngọn lửa trong dạ người làng Mái còn sáng, thì thớ gỗ thị khắc lên giấy điệp nhất định sẽ lại nở hoa, con ạ!
Nghe từng lời rành rọt, trầm ấm của cụ, lòng An bỗng nhẹ bẫng đi. Nỗi sợ hãi và tự trách biến thành một luồng nhiệt khí ấm sực lan tỏa khắp lồng ngực. Cậu đưa đôi bàn tay rách da đón lấy chén nước chè xanh cụ đưa, ngụm từng ngụm ấm nồng. Cụ Nhượng lấy một nắm lá nhọ nồi giã nhuyễn với chút muối hột, cẩn thận đắp vào vết thương trên tay An rồi dùng dải vải nâu sồng băng lại gọn gàng.
Ngoài sân, gió bấc bỗng ngưng thổi một thoáng, hắt chút nắng vàng hoe nhạt nhòa qua rặng tre ngà.Đang lúc hai cụ cháu xếp lại mấy chiếc chõng phơi dưới mái hiên, tiếng bước chân sột soạt trên đống rơm khô cùng tiếng gọi lảnh lót ngoài ngõ vọng vào — An ơi! Cậu có ở nhà không đấy?
Một bóng người nhỏ nhắn thoăn thoắt chạy qua cánh cổng tre. Đó là bé Mận, con gái út của bác Phó Cả Dần. Con bé mười tuổi, mặc manh áo yếm đào chắp mảnh vải nâu ấm áp, hai bím tóc đuôi gà lệch lúc lắc theo từng nhịp nhảy chân sáo. Thấy An đang đứng bên giàn phơi, Mận cười tươi để lộ lúm đồng tiền xinh xắn, nhưng vừa thấy bàn tay cậu quấn băng vải, nụ cười trên môi con bé liền thu lại, mắt tròn xoe đầy vẻ lo lắng — Ôi chao, tay cậu làm sao thế kia An? Rách hết cả rồi à?
An khẽ giấu bàn tay ra sau, gượng cười — Tớ không sao, lúc sáng trượt chân ngã vào đống gạch vỡ thôi. Cậu sang có việc gì thế?
Mận khoanh tay lễ phép cúi đầu chào cụ Nhượng đang ngồi bên chõng tre — Cháu chào cụ Biền ạ.
— Ừ, cái Mận đấy à con. Thầy mẹ con hôm nay có khỏe không? — Cụ Nhượng mỉm cười hiền từ đáp lại.
Mận ríu rít — Dạ, bà nội cháu đỡ đau khớp rồi cụ ạ. Cháu định sang rủ An ra bãi cỏ bến sông phụ phơi mấy nong giấy dó cũ của thầy cháu, nhưng thấy tay An đau thế này thì thôi vậy.
Nói đoạn, con bé nghiêng đầu ghé sát tai An, giọng hạ thấp thì thào với vẻ đầy tự hào và ngây thơ — Mà này An, thầy tớ sắp mua cho tớ đôi guốc mộc mới đón Tết rồi đấy! Sáng nay có cái bác lái buôn béo tốt ở phố huyện, bác Quản Lợi ấy, đến tận nhà tớ. Bác ấy đem cho thầy tớ mấy xâu tiền kẽm tươi rói làm tiền đặt cọc, bảo thầy tớ cứ nhận về dập tranh bổi cho bác ấy. Bác ấy dặn chỉ cần pha bột than đen thui trong bao tải rồi quệt lên giấy rơm ngâm vôi là dập được tranh ngay, chẳng cần phải cực nhọc quấy hồ điệp hay đãi son nữa! Thầy tớ nhận tiền rồi, bảo chiều nay sẽ dựng rạp dập tranh luôn đấy!
Nghe những lời con trẻ ngây ngô kể lại, An giật thót mình. Cậu quay phắt sang nhìn cụ cố. Cụ Nhượng vẫn ngồi lặng trên chõng tre, nhưng đôi mày bạc trắng như cước của cụ khẽ nhíu lại, nét mặt đượm vẻ ưu tư sâu sắc. Mầm mống của thứ tranh bổi đen đúa, hôi hám mùi than bùn tẩm diêm sinh quả nhiên đã bắt đầu bén rễ vào những mái nhà khốn khó trong làng.
Đúng lúc ấy, từ phía trung tâm làng Mái, một hồi trống lệnh bất ngờ rền vang.
“Tùng! Tùng! Tùng!...”
Tiếng trống đình đột ngột vang lên dồn dập, gõ ba hồi chín tiếng rền rĩ, xé toạc không gian yên ắng của buổi sớm đầu đông. Đó là hiệu lệnh khẩn thiết của Lý trưởng Đặng Khoái, báo triệu toàn thể phường thợ tranh làng Mái tề tựu ngay tức khắc về sân đình để định đoạt việc sống còn của cả làng nghề.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
