Chương 2: Mùi Hôi Diêm Sinh

Cụ Biền Duy Nhượng vẫn quỳ gối giữa đống gạch vụn, ngón tay cái miết chặt lấy nắm tro đen vừa vốc lên. Mùi khét lẹt nồng nặc bốc lên từ kẽ tay khiến sống mũi cụ cay xè, nhức buốt tận thái dương. Gió bấc từ triền đê nam sông Đuống ào qua khoảng trống hoác của gian tiền tế, thổi bay những vụn than nhẹ bẫng lả tả khắp vạt áo nâu sồng.

Trước mặt cụ, Quản Lợi vẫn đứng đó, hai tay chắp sau lưng, tà áo the thâm lóng lánh trong làn gió lạnh. Nụ cười giả lả nơi khóe miệng gã buôn dường như đông cứng lại khi thấy đôi mắt đùng đục của cụ Cả Mái ngước lên nhìn thẳng vào mình. Ánh mắt bách niên quắc thước, sâu thẳm như lòng giếng khơi, khiến gã lái buôn phố huyện bất giác lùi lại nửa bước, khẽ hắng giọng lấp l**m — Cụ Cả nhìn tôi làm gì thế? Tro tàn đổ nát có gì đáng ngắm, cụ tuổi cao sức yếu, mau về nghỉ kẻo trúng hàn khí.

Cụ Nhượng không đáp lời. Cụ chậm rãi buông tay, để lớp bụi đen rơi lả tả xuống mặt gạch Bát Tràng lem luốc. Cụ chống chiếc gậy tre đứng dậy, lưng còng khẽ uốn cong theo từng nhịp thở nặng nhọc. Quanh sân đình, đám đông thợ tranh và tuần đinh vẫn còn xao xác, túm năm tụm ba bên viên lý trưởng Đặng Khoái đang càu nhàu phân xử việc canh đ**m.

Cụ Nhượng không bước ra cổng mà lặng lẽ vòng qua mé hiên sụp đổ, đi dọc theo bờ tường hồi phía đông. Nơi này khuất gió, rạ rơm ẩm mục chất thành từng đống cao quá đầu gối cạnh bờ rào dâm bụt. Cụ hạ thấp người, đưa đầu gậy tre gạt từng mảng rơm rạ nửa cháy nửa tươi sang một bên.

Dưới đáy lớp tro rơm xém xỉn, một vệt than đen sẫm kéo dài từ chân móng đá ong vào tận bệ cửa ngách hiện ra rõ mồn một. Cụ Nhượng ngồi xổm xuống, nhặt một mẩu đất cháy vón cục đưa lên mũi. Mùi hăng hắc, ngai ngái quen thuộc lại xộc vào lồng ngực. Đó chính xác là mùi diêm sinh, thứ khói vàng khè mà cánh thợ thiếc ngoài trấn hay dùng để đốt tẩy đồ rỉ sét, tuyệt nhiên không phải tro tàn của nẹp tre hay rơm nếp làng quê. Một vệt bột vàng nhạt lấm tấm sót lại trên khe gạch, chưa kịp cháy hết đã bị đất ẩm vùi lấp.

Đôi mắt cụ se lại. Ngọn lửa thiêu rụi ngôi đình cổ và bộ ván tổ trăm năm hóa ra chẳng hề thuận theo lẽ trời.

— Cụ Cả quả là người cẩn thận, hạt bụi rơi cũng chẳng qua được mắt cụ!

Tiếng bước chân giẫm trên sỏi lạo xạo vang lên. Quản Lợi lại sải bước tới, theo sau là hai tên lực điền lực lưỡng vai vác đòn xóc, tay lăm lăm bao tải gai. Bộ dạng gã buôn lúc này chẳng còn vẻ xót xa vờ vịt ban nãy, mà toát lên sự sốt sắng, bồn chồn của kẻ đang toan tính mối làm ăn lớn.

Gã dừng chân cách cụ Nhượng ba bước, lấy ngón tay xoay xoay chiếc nhẫn ngọc trên bàn tay béo múp, cất giọng trơn tru — Việc đình làng ngộ hỏa kể cũng là vận hạn xui xẻo. Nhưng tôi nghĩ kỹ rồi, cụ Biền ạ. Ván tổ mất thì làng Mái ta khắc ván khác, việc gì phải ngồi ôm đống gạch vỡ mà than thân trách phận? Tết nhất đến chân rồi, khách buôn kinh kỳ trên Thăng Long, dưới Phố Hiến đang rục rịch giục hàng. Nay không có tranh bán thì thợ làng Mái chết đói cả nút, lấy đâu tiền nộp sưu nộp thuế cho quan phủ?

Cụ Nhượng chống gậy đứng thẳng người, giọng trầm đục — Ván in ba đời truyền lại đã cháy thành than. Gỗ thị ngâm bùn muốn dẻo quánh để hạ mũi đục cũng phải mất hàng mấy tuần trăng. Không có ván tổ, lấy gì mà in tranh?

Quản Lợi cười phá lên, tiếng cười lanh lảnh làm bầy sẻ ngô trên ngọn đa giật mình bay tán loạn — Cụ ơi là cụ! Cụ già rồi nên nghĩ luẩn quẩn quá. Ai bảo cụ phải lặn lội tìm gỗ thị rồi ngồi đục đẽo từng sợi râu con gà, từng cái móng con vịt làm gì cho mỏi mắt còng lưng? Thời buổi này tranh bán cho kẻ nghèo treo ba ngày Tết, sang giêng họ đem đốt vàng mã hết cả, ai hơi đâu mà soi từng thớ điệp lấp lánh với nét vát sâu nông!Gã ngoắc tay ra hiệu cho hai tên tùy tùng hạ bao tải xuống nền đất. Miệng bao mở ra, để lộ những tệp giấy xám xỉn, xốp và mủn như vỏ bổi bọc hàng, cùng mấy hũ sành đựng đầy thứ bột đen kịt, hôi nồng nặc mùi bùn tanh pha lẫn diêm sinh cay xè.

Quản Lợi ghé sát lại, giọng hạ thấp đầy vẻ m*n tr*n, dụ dỗ — Tôi tính cả rồi. Ngoài bến sông, tôi đã cho thuyền chở sẵn mười thuyền giấy bổi mục bóc từ rơm rạ ngâm vôi, kèm theo vài chục thúng than bùn tẩm diêm sinh tán mịn. Cứ lấy ván gỗ tạp đục nét thô, bôi thứ bột than này lên giấy bổi rồi đem dập hàng loạt, vừa nhanh vừa đậm màu. Cụ là bậc thợ cả có uy tín nhất vùng, chỉ cần cụ gật đầu khuyên phường thợ trong làng bỏ lối quét điệp tỉ mẩn đi, chuyển sang dập tranh bổi cho tôi, tôi xin trả công gấp đôi! Tiền kẽm tươi rói, đong tại chỗ từng quan tiền, thúng gạo, chẳng để ai phải chịu thiệt một đồng kẽm nào!

Cụ Nhượng nhìn trân trân vào đống bột than bùn hôi hám dưới chân hai tên lực điền. Mùi diêm sinh nồng nặc bốc lên tanh tưởi, y hệt thứ mùi cụ vừa ngửi thấy nơi vệt cháy góc đình. Từng đường gân trên bàn tay thô ráp của cụ giật nảy lên, chiếc gậy tre siết chặt trong lòng bàn tay đến mức run rẩy.

— Anh lái Lợi… — Cụ Nhượng cất giọng, từng lời thốt ra đanh thép, rành rọt như tiếng đục nện vào thớ gỗ lim. — Đôi bàn tay người làng Mái mấy trăm năm nay chỉ quen quấy hồ nếp thơm, quét bột vỏ điệp biển lấp lánh như dát xà cừ, chắt chiu từng giọt son sỏi, từng lá chàm tươi để làm đẹp cho ngày Tết của trăm họ. Tranh làng Mái là cốt cách, là hồn vía của tổ tiên để lại, đâu phải thứ đồ lừa lọc nhuộm than bẩn tẩm diêm sinh độc hại ấy!

Gương mặt tròn bóng nhẫy của Quản Lợi hơi biến sắc, nhưng nụ cười trơ tráo vẫn chưa tắt hẳn — Cụ Cả nói thế nghe nặng lời quá! Nghề nào chẳng là nghề kiếm bát cơm. Tranh đẹp mà không có tiền đong gạo thì cả làng ôm nhau chết rét à? Bác Phó Cả Dần với mấy chú thợ trẻ ngoài kia nghe tôi nói xong, ai nấy đều sáng mắt ra cả rồi đấy!

— Người làm nghề chân chính dẫu đói rách cũng không bôi bẩn lương tâm! — Cụ Nhượng gằn giọng, mắt rực lên ngọn lửa giận dữ. — Thứ bột diêm sinh độc địa kia, trẻ nhỏ cầm vào thì lở loét ngứa ngáy da thịt, người hít phải thì đau tức buồng phổi. Anh đem thứ phẩm rác rưởi ấy vào làng, định bức tử danh tiếng làng Mái, biến cả làng thành phường buôn gian bán lận hay sao? Mau đem ngay những thứ tanh tưởi này cút khỏi sân đình! Chừng nào lão già này còn thở, đừng hòng có một tờ tranh bẩn nào lọt qua cổng làng!

Lời nói sang sảng của bậc thợ cả bách niên vang vọng khắp khoảng sân hoang tàn, khiến mấy người thợ đứng gần đó giật mình ngoái lại nhìn. Quản Lợi tím mặt vì bẽ bàng. Nụ cười giả lả tắt ngấm, gã nghiến răng, đôi mắt ti hí híp lại hằn lên tia nhìn hung hiểm — Được lắm! Cụ cứ giữ lấy cái đạo lý rỗng tuếch ấy mà ăn Tết! Để tôi chống mắt lên xem, không có gỗ thị, không có ván tổ, một tháng nữa cụ lấy cái gì đem ra chợ Tết rằm tháng Chạp đọ với thuyền tranh của tôi! Đến lúc cả làng này ôm bụng đói meo, cụ đừng có van lạy Quản Lợi này mở kho phát gạo!

Dứt lời, gã hậm hực vung tay áo the, giục hai tên tùy tùng vác bao tải rảo bước thẳng ra mé cổng làng lát đá ong.

Cụ Nhượng đứng lặng giữa làn gió bấc buốt giá, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ. Cụ ngước nhìn năm gian đình trơ trọi cột than mà lòng đau như cắt. Cám dỗ bạc tiền đã bắt đầu len lỏi vào từng nếp nhà tranh vách đất, đe dọa bẻ gãy thớ gỗ thanh sạch của làng nghề.

Lê từng bước chân nặng nhọc qua triền đê lộng gió rít, cụ Nhượng trở về con ngõ nhỏ dẫn vào xưởng tranh đất nện của gia đình. Gian nhà ba gian vách đất trát rơm lợp rạ nếp đón cụ bằng không khí quạnh quẽ, chỉ có tiếng gió lùa qua giàn phơi giấy dó trống trơ ngoài hiên.

Thế nhưng, vừa bước qua cánh cổng tre ghép tạm, bước chân cụ bỗng khựng lại.

Dưới mái hiên đất nện ẩm ướt, thằng An đang ngồi thụp bên chiếc cối đá nghiền điệp. Thằng bé co ro trong manh áo cộc vá vai, người run lên bần bật. Nghe tiếng bước chân của cụ cố, nó giật mình ngước lên, gương mặt nhem nhuốc tro than lấm lem nước mắt, đôi môi tím tái vì lạnh. Nhưng điều khiến cụ Nhượng thảng thốt là đôi bàn tay gầy gò của thằng chắt nội: hai bàn tay nó rách toạc, máu tươi ứa ra hòa cùng muội than đen kịt, đang cố sức ghì chặt một vật gì đó cưng cứng, góc cạnh giấu kín sau lưng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.