Chương 24: Trống Rước Ván Tổ
Tiếng trống khẩu gióng lên từng hồi dõng dạc, chen cùng nhịp thanh la giòn giã ngân dài làm xao động cả mặt nước sông Đuống buổi hoàng hôn. Biền Văn An đứng nép bên cạnh cụ cố, ngước mắt nhìn đoàn người rước kiệu đang tiến qua vòm cổng làng rêu phong. Ngọn cờ ngũ sắc bay phần phật trong gió bấc, trải sắc đỏ, vàng, lục rực rỡ trên nền trời đông ươm màu nắng quái.
Chiếc kiệu bát cống sơn son thếp vàng do tám chàng trai vạm vỡ của phường thợ khiêng chầm chậm hạ xuống trước sân xưởng tranh. Trên mặt kiệu, tấm vải điều thêu chỉ vàng được khẽ khàng vén mở, để lộ trọn vẹn bộ năm phiến ván in mộc bản “Vinh Hoa Phú Quý” vừa được đục xong từ thớ gỗ thị ngàn năm. Mặt gỗ vàng ngà như sáp ong, nhẵn bóng không một tì vết, tỏa ra mùi thơm the mát phảng phất tựa hương trấu ủ mầm non.
— Chắt An, đỡ lấy bát trầm giúp cụ, dắt kiệu về đình! — Cụ Nhượng khẽ đặt bàn tay gầy guộc lên vai An, giọng trầm ấm rung lên niềm xúc động.
— Vâng ạ! — An rành rọt thưa.
Thằng bé mười hai tuổi trịnh trọng đón lấy chiếc lư hương bằng đồng mắt cua tỏa khói nghi ngút, bước đi ngay trước mũi kiệu. Phía sau, dân làng Mái trong những bộ áo dài vải thô tinh tươm hò reo, nối đuôi nhau rảo bước. Ngôi đình cổ năm gian bị giặc lửa thiêu rụi đêm Lập đông nay được dân làng dựng tạm bằng ba gian nhà tre lợp rạ nếp thơm nồng ngay trên nền đất gạch Bát Tràng cũ để làm nơi phụng thờ tổ nghề qua mùa Tết.
Đoàn rước dừng chân trước bậc thềm gạch đỏ. Tiếng chiêng trống ngừng bặt, nhường chỗ cho sự trang nghiêm tĩnh lặng của chốn hương hỏa. Dưới sự chứng kiến của toàn thể phường thợ, cụ Biền Duy Nhượng chậm rãi bước lên, tự tay nâng từng phiến ván mộc bản đặt lên sập thờ chạm hoa sen. Bốn phiến ván in màu đỏ son, vàng hòe, xanh chàm, trắng điệp nằm dàn đều hai bên, nâng đỡ cho phiến ván nét khắc hình chú bé mũm mĩm ôm con gà trống oai vệ ở chính giữa.
Bất giác, An thấy ngực mình thắt lại. Cậu nhớ đến đêm Lập đông kinh hoàng, khi ngọn lửa hung tàn bốc lên ngùn ngụt nuốt chửng rương gỗ gụ của tổ tiên. Lúc ấy, cậu đã bất lực gào khóc trong khói đen cay xè. An vội thò tay vào bọc áo nâu, run rẩy rút ra một mảnh gỗ nhỏ xém đen viền cạnh. Đó là mảnh ván vỡ mang nét mặt đứa bé ôm gà mà An đã liều chết bới trong tro tàn rồi cất giấu bấy lâu, mang theo nỗi tự trách giày vò rằng mình không thể cứu vãn bảo vật truyền đời.
— Cụ ơi... mảnh ván cũ... — An nghẹn ngào, hai tay dâng mảnh gỗ lên trước mặt cụ cố.
Cụ Nhượng mỉm cười hiền hậu, ánh mắt bao dung soi tỏ từng nét run rẩy của đứa chắt mồ côi. Cụ đón lấy mảnh gỗ thị sém cạnh, nhẹ nhàng đặt nó vào ngay sát phiến ván nét mới toanh, nơi đường dao chạm hình đứa bé ôm gà vừa vặn tiếp nối từng nét tơ kẽ tóc. Khói trầm hương bảng lảng quyện vào thớ gỗ, tựa hồ như linh hồn trăm năm của các bậc tiền nhân đang giao hòa cùng sinh khí mới của làng nghề.
— Con đừng dằn vặt nữa. Tro tàn ngày cũ rụng xuống mới nảy mầm cho mùa hoa mới hôm nay. Mảnh gỗ này từ nay ở lại bên ván tổ, nhắc cho con cháu đời sau nhớ rằng lòng dạ người thợ làng Mái chưa từng cúi đầu trước tai ương.
Lời cụ cố như một dòng suối ấm tưới mát cõi lòng An. Thằng bé thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu mặc cảm tội lỗi đè nặng trên đôi vai nhỏ bé suốt hơn một tháng qua thoắt cái tan biến sạch trơn. Cậu cúi đầu nhìn xuống đôi bàn tay mình. Mấy tuần trước, hai bàn tay cậu còn rách toạc da thịt, rướm máu vì bới bùn sâu gò Đống Sòi và cầm đục thâu đêm, phải quấn chặt lớp vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi. Nay dải băng nâu đã được tháo bỏ. Vết thương khép miệng phẳng phiu, lớp da non ửng hồng lành lặn và những vết chai sần nơi đầu ngón tay hiện rõ như dấu ấn của một người thợ thực thụ đã đi qua giông bão.
Dưới sân đình tạm, bác Phó Cả Dần bước lên hàng đầu, dẫn theo Đỗ Lạc cùng hàng chục thợ dập, thợ quét điệp tề tựu đông đủ. Bác Dần nâng bó nhang trầm vái lạy ba vái, giọng sang sảng vang vọng giữa sân gạch:— Kính lạy tổ nghề, lạy các bậc tiền nhân làng Mái! Đỗ Văn Dần con từng có lúc lầm đường vì manh áo hạt gạo mà suýt làm hoen ố thanh danh thợ mộc bản. Nay trước anh linh tiên tổ và cụ thợ cả, chúng con xin thề: từ nay cho đến muôn đời sau, phường thợ làng Mái chỉ dùng thớ gỗ thị chân chính, chỉ quét bột vỏ điệp biển tinh khôi và màu thảo mộc tự nhiên! Ai tham lợi buôn gian bán dối, xin tổ nghề tước đi ngọn dao khắc!
— Xin thề giữ trọn đạo nghề! — Đỗ Lạc cùng toàn thể thợ làng đồng thanh hô vang, tiếng vang rền át cả gió bấc ngoài sông.
Lễ tạ hoàn tất, dân làng tản ra quanh sân đình cùng nhau dọn dẹp cờ quạt, chia nhau những nắm xôi nếp bọc lá chuối ấm sực. Cụ Nhượng khẽ ngoắc tay gọi An ra góc hiên đình, nơi đặt một khúc đầu mẩu của thân cây thị cổ thụ còn sót lại sau khi xẻ ván.
Chỉ tay vào một vết rạch sâu hoắm đã hóa thành sẹo lồi trên thớ gỗ, nơi vẫn còn hằn rõ dấu cắm của một mũi dao nhọn đã han rỉ từ thuở nào, cụ Nhượng trầm ngâm bảo — Chắt An, hôm vớt cây thị ở gò Đống Sòi lên, con có nhớ mũi dao cắm ngập này không?
— Dạ nhớ, hôm ấy chú Dần suýt mẻ lưỡi cưa vì chạm phải nó ạ, — An tròn xoe mắt đáp.
Cụ Nhượng vuốt nhẹ lên vết sẹo gỗ già nua, khẽ gật đầu — Năm Giáp Thìn lũ lớn cuốn trôi rặng thị, cụ tổ của con khi ấy là bậc thợ cả đã lặn lội xuống bãi bồi tìm kiếm. Cụ biết gốc cây này là linh mộc ngàn năm, nhưng sức người thời ấy không sao kéo lên nổi giữa dòng lũ dữ. Trước khi để phù sa vùi lấp, cụ đã dùng chính ngọn dao trổ này rạch sâu vào thân gỗ và găm mũi dao lại làm dấu định vị, mong truyền lại cho con cháu đời sau khi hữu sự. Mũi dao ấy nằm đợi dưới đáy bùn gần trăm năm, đợi đến lúc làng gặp cơn nguy biến mới dẫn lối cho hai cụ cháu mình tìm ra.
An sờ tay vào dấu tích han rỉ trên thớ gỗ, trong lòng trào dâng niềm thành kính khôn xiết. Hóa ra mối duyên giữa dòng họ Biền và thớ gỗ thị ngàn năm đã được đan bện chặt chẽ qua bao thế hệ, như một mạch ngầm chở che làng Mái qua những khúc quanh dâu bể.
Đúng lúc ấy, ngoài cổng đình bỗng rộn lên tiếng bước chân chạy nhảy thình thịch cùng tiếng cười giòn tan. Bé Mận trong chiếc áo cánh màu hoa đào mới tinh, hai bím tóc đuôi gà lắc lư theo từng nhịp nhảy, chạy ùa vào sân đình. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của con bé nay đã trắng trẻo, nhẵn nhụi, giơ cao hai tờ tranh “Vinh Hoa” vừa mới dập còn thơm nức mùi hồ nếp và óng ánh vảy điệp lấp lánh dưới ráng chiều.
— Cậu An ơi! — Mận chạy xộc đến tận hiên, vừa thở vừa ríu rít kéo giật vạt áo nâu của An. — Thầy tớ đã rửa sạch chõng in rồi! Mẹ tớ đang bắc nồi bánh chưng xanh ngắt ngoài sân kia kìa! Cậu mau về với cụ Nhượng nhóm bếp đi thôi, sắp đến giờ trừ tịch đón giao thừa rồi!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
