Chương 25: Bếp Lửa Trừ Tịch
Cụ Biền Duy Nhượng nhìn theo cái bóng áo màu hoa đào của bé Mận đang thoăn thoắt nhảy chân sáo ra phía ngõ, tiếng cười giòn tan hòa vào ngọn gió bấc chiều muộn. Cụ khẽ vỗ nhẹ lên vai chắt An, chòm râu cước rung rinh trong nụ cười đôn hậu — Thôi, con cất hai tờ tranh vào tráp rồi theo cụ về xưởng. Chớ để mẹ con bé Mận với bà con chờ lâu.
Chắt An lễ phép dạ ran, hai bàn tay lành lặn bọc lấy đôi tranh điệp, nâng niu như báu vật rồi rảo bước theo cụ cố trở về căn nhà tranh ba gian lợp rạ nếp nồng đượm khói lam chiều.
Đêm ba mươi Tết buốt giá buông xuống bờ nam sông Đuống tựa một tấm màn nhung thẫm. Gió đông ngoài bãi bồi thổi hun hút qua rặng tre ngà, quất từng luồng lạnh buốt vào mái rạ, nhưng bên trong gian nhà đông của cụ Nhượng, không khí lại ấm sực, ngào ngạt hương thơm của nếp cái hoa vàng quện với mùi lá dong bánh chưng sôi sùng sục. Giữa hiên nhà, một chiếc nồi đồng lớn kê trên ba hòn gạch nung đỏ rực. Ngọn lửa rơm nếp quyện cùng củi gốc nhãn đượm than nổ tí tách, phả hơi ấm hồng hào lên từng gương mặt thân quen đang quây quần.
Cụ Nhượng ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre quen thuộc, chậm rãi nhấp một ngụm nước lá đắng ủ ấm trong ấm tích bọc rơm. Mấy hôm trước, cơn đau tức ngực thắt nghẹt cùng những đợt run tay vì lao lực tưởng như đã quật ngã tấm thân bách niên giữa gió rét mùa đông. Thế nhưng đêm nay, sau khi chén thuốc thảo mộc thơm lừng được chắt An tận tay sắc kỹ, đun nhỏ lửa bưng lên hầu cụ sớm hôm, lồng ngực cụ nhẹ bẫng lạ thường. Nỗi âu lo đau đáu cả một đời thợ mộc bản như đã tan biến sạch trơn theo khói trầm, nhường chỗ cho niềm an lạc sâu lắng chảy tràn qua từng mạch máu già nua.
Bên cạnh bếp lửa, bác Phó Cả Dần đang lúi húi dùng chiếc que sắt cời thêm than củi, khuôn mặt vuông vức rạng ngời dưới ánh lửa bập bùng. Đôi bàn tay từng phồng rộp vì than bẩn của bác nay đã phẳng phiu, cầm que cời củi một cách vững chãi. Bác ngẩng lên nhìn cụ Nhượng, giọng sang sảng mà đượm vẻ kính cẩn — Cụ ơi, mười nồi bánh chưng khắp xóm thợ năm nay nhà nào cũng xanh ngắt. Nhờ bốn mươi đôi tranh điệp hôm rằm cứu rỗi cả làng, lại thêm số bạc khách buôn kinh kỳ đặt cọc mùa sau, bà con ai nấy đều sắm được manh áo mới, thúng nếp đong đầy. Con vừa sang bến sông, rạp tranh bổi hun khói lưu huỳnh đã dọn sạch bách, chỉ còn bãi cát phù sa thơm mát mùi gió sông thôi cụ ạ!
Ngồi bên cạnh bác Dần, Đỗ Lạc khẽ vuốt lại nếp áo nâu sồng phẳng phiu, hai mắt long lanh niềm cảm kích — Dạ thưa cụ, mẹ con chiều nay đã tự tay ngồi dậy xới bát cơm nếp cúng tổ tiên. Nếu không có tấm lòng hải hà của cụ cứu mạng mẹ con, lại xin quan huyện hủy tờ khế ước oan nghiệt, thì giao thừa này con chẳng biết lưu lạc phương nào. Ơn sâu của cụ và họ Biền, con xin khắc dạ ghi lòng, trọn đời nguyện góp sức cùng anh em thợ dập mộc bản của làng Mái.
Cụ Nhượng mỉm cười hiền từ, ánh mắt đục mờ vì năm tháng ánh lên nét bao dung thăm thẳm — Bác nó với chú Lạc đừng bận lòng chuyện cũ nữa. Đạo làm nghề cũng như thau nước giếng khơi, gạn đi bùn cặn thì nước lại trong vắt soi thấu trăng sao. Giữ được cái gốc lương thiện, thì dẫu qua trăm cơn bão nổi, thớ gỗ làng Mái vẫn cứ nở hoa.
Bé Mận ngồi nép vào lòng mẹ, hai má ửng hồng như quả bồ quân chín, đang cùng chắt An bóc những củ khoai nướng lùi tro thơm phức. Con bé rúc rích cười, dúi củ khoai nóng hổi vào tay bạn — Này, khoai mật ngọt lừ, phần cậu củ to nhất đấy An nhé! Mai mồng một hội làng, tớ với cậu lại ra bến sông xem múa lân, rồi tớ phụ cậu phơi giấy điệp trên triền đê ngát gió!
Chắt An đón lấy củ khoai, gương mặt sáng ngời dưới ánh than hồng. Thằng bé nhìn quanh gian nhà ấm cúng, ánh mắt dừng lại nơi bàn thờ tổ nghề. Ở đó, đôi tranh “Vinh Hoa Phú Quý” óng ánh vảy điệp trắng ngà in hình chú bé ôm gà béo tốt, ôm vịt thảnh thơi được treo trang trọng hai bên. Ánh lửa bập bùng hắt lên giấy điệp, làm hàng vạn mảnh lân tinh biển khơi lấp lánh như dát xà cừ, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt giá của tiết trời đông tàn.Chừng nửa canh giờ trước thời khắc trừ tịch, cụ Nhượng khẽ hắng giọng, chống hai tay lên gối đứng dậy. Cụ bước chậm rãi về phía bàn thờ tổ nghề, kính cẩn thắp một nén nhang trầm rồi quay lại chiếc tráp gỗ thị nhỏ đặt ở đầu chõng. Cả gian nhà bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng reo lách tách của nồi bánh chưng và tiếng gió xào xạc ngoài lũy tre.
Cụ mở nắp tráp, nâng niu lấy ra một vật bọc trong tấm lụa điều đã sờn mép. Khi lớp lụa mở ra, một ngọn đục ngô bằng thép già chuôi sừng trâu đen bóng hiện lên dưới ánh lửa. Lưỡi đục mỏng manh, sắc lẹm, phần chuôi sừng đã mòn vẹt, lên nước bóng loáng vì mồ hôi của bốn thế hệ thợ cả dòng họ Biền.
— Chắt An, con lại đây với cụ, — giọng cụ Nhượng trầm ấm, ngân vang giữa gian nhà.
An vội vã đứng dậy, phủi sạch tàn tro rơm bám trên ống quần, bước đến quỳ gối trước mặt cụ cố. Cậu ngước nhìn cụ, hai hàng mi khẽ run rẩy.
Cụ Nhượng đặt hai bàn tay gân guốc nâng ngọn đục ngô gia bảo, ánh mắt chan chứa tình thương yêu và kỳ vọng nhìn thẳng vào đứa chắt nội mồ côi — An ơi, ngọn đục này từ thuở cụ tổ con lặn lội xuống bãi bồi tìm gốc thị, truyền qua tay cụ, qua tay ông nội rồi qua tay cha con. Đêm Lập đông đình cháy, tro tàn phủ kín làng, cụ tưởng chừng như ngọn lửa thiêng của tiên tổ đã tắt lịm. Nhưng chính đôi bàn tay dính máu và lòng dạ son sắt của con ở gò Đống Sòi đã nhen lại mùa xuân cho làng Mái. Hôm nay, trước mặt bàn thờ tổ nghề và bà con xóm thợ, cụ trao lại ngọn đục này cho con.
Cụ khẽ đặt mũi đục vào lòng bàn tay nhỏ nhắn của An, nắm chặt lấy những ngón tay đã lành lặn, phẳng phiu của cậu bé — Con hãy nhớ lấy lời cụ: Thớ gỗ thị dẻo dai bởi ngâm sâu dưới bùn đất phù sa; vỏ điệp óng ánh bởi chắt chiu tinh túy của sóng biển nghìn trùng. Nghề làm tranh của làng mình không chuộng bạc vạn của kẻ buôn gian bán dối. Người thợ mộc bản phải giữ cho lòng mình thật sáng, cái tâm có trong thì ngọn đục mới vững vàng, nhát khắc mới sắc son và hoa mới chịu nở trên giấy điệp. Giữ lấy ngọn đục, cũng là giữ lấy cái đức của dòng họ, giữ lấy linh hồn của làng quê con ạ.
Bàn tay An run lên bần bật khi chạm vào chuôi sừng trâu mát rượi mà ấm nồng linh khí tiền nhân. Bao kỷ niệm của những đêm đông thức trắng bới bùn sâu, những nhát đục ngô cắn vào thớ gỗ tê buốt đến tận xương tủy bỗng ùa về khiến sống mũi cậu cay xè. Hai giọt nước mắt trong veo lăn dài trên đôi má bánh mật, rớt xuống lưỡi thép già sáng quắc.
An dập đầu sát chiếc chiếu cói, hai tay nâng cao ngọn đục gia bảo, cất tiếng thề rành rọt, vang vang — Chắt xin kính cẩn đón nhận ngọn đục của cụ cố và tổ tiên! Con xin thề trọn đời giữ tâm trong dạ sáng, một lòng nối nghiệp gia phong, dù gian nan đói khổ cũng quyết không phụ thớ gỗ thị và sắc điệp biển của làng Mái!
— Tốt lắm! Đúng là con cháu họ Biền! — Bác Phó Cả Dần vỗ mạnh vào đùi đánh đét, mắt bác cũng hoe đỏ vì xúc động. Đỗ Lạc cùng mọi người đều rạng rỡ mỉm cười, chắp tay thành kính hướng về bàn thờ tổ nghề.
Đúng lúc ấy, từ phía đầu làng, một tiếng pháo đì đẹt đầu tiên vang lên, rồi tiếp theo là hàng loạt tiếng pháo đón xuân nổ giòn giã khắp đường thôn ngõ xóm. Giao thừa trừ tịch đã điểm. Tiếng chuông chùa làng Mái ngân nga từng hồi trầm hùng, xua tan đi màn đêm tăm tối và những nhọc nhằn, tai ương của một năm cũ.
Gió bấc bỗng chốc ngừng thổi, nhường chỗ cho những hạt mưa xuân lây phây đậu trên chồi non của rặng tre ngà. Trong gian nhà rạ ấm cúng, ánh lửa hồng bập bùng soi rọi những nụ cười rạng rỡ, chan chứa tình làng nghĩa xóm. Trên vách đất, những tờ tranh “Vinh Hoa Phú Quý” ánh lên sắc xà cừ óng ả, rực rỡ như hàng ngàn đóa hoa đang bung nở giữa mùa xuân thanh bình, ấm no của làng Mái nghìn năm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
