Chương 21: Thử Lửa Trong Mưa Buốt
Mưa phùn đầu đông mỗi lúc một thêm dày hạt, cuốn theo từng đợt gió bấc buốt nhức xương tủy từ mặt sông Đuống quất thẳng vào bãi chợ. Cụ Biền Duy Nhượng đứng chôn chân trên nền đất ẩm, bàn tay khô gầy khẽ siết chặt chiếc gậy tre, đôi mắt đùng đục dõi nhìn từng hạt nước lạnh ngắt buông xuống không gian ngột ngạt bên bến đò.
Chỉ trong vài cái chớp mắt, sự hung bạo của đất trời đã phơi bày tất cả.
Dưới rạp lớn rực rỡ cờ dong ngõ bướm của Quản Lợi, hàng ngàn tờ tranh bổi rơm mục vừa chạm phải màn mưa buốt liền rệu rã. Thứ giấy xốp ngâm vôi tôi vội vã hút đẫm nước mưa, mềm nhũn ra như bánh đa nhúng nước, từng mép giấy rách tươm, bết chặt xuống mặt chõng tre. Ghê gớm hơn cả là thứ phẩm than bùn pha lưu huỳnh mà Quản Lợi khoe khoang. Gặp nước lạnh, lớp bột đen kịt bắt đầu tan chảy nhớp nháp, loang lổ như vũng bùn trâu đầm, làm nhòe nhoẹt nét mặt chú bé ôm gà thành một vết nham nhở dị hình. Từ những chồng tranh đang mủn nát ấy, một mùi nồng hắc lợm giọng xộc thẳng lên, nồng nặc mùi lưu huỳnh thối rữa và khói bùn tanh tưởi.
— Khét quá! Mùi gì mà buốt óc thế này!
— Bớ người ta, tranh rởm ngâm độc! Nước than rỉ vào tay tôi ngứa như phải bỏng rồi!
Tiếng la hét kinh hoàng nổi lên từ đám đông vây quanh rạp buôn phố huyện. Khách buôn, phu khuân vác cùng dân làng lấy vạt áo bịt mũi, ho sặc sụa, đồng loạt dạt lùi ra xa như chạy trốn dịch bệnh. Mặt đất trước rạp Quản Lợi nhơ nhuốc những dòng nước đen ngòm rỉ xuống từ mép bàn, tanh tưởi khôn cùng.
Ở phía bên này cây đa bến đò, cụ Nhượng vẫn bình thản ngắm nhìn hàng sào nứa giăng bốn mươi đôi tranh của nhà mình. Thằng An đứng nép bên cạnh cụ, bàn tay quấn vải nâu nắm chặt lấy tà áo nâu bạc màu, nín thở theo dõi từng giọt mưa sa.
Kỳ diệu thay, trước thử thách nghiệt ngã của trời đông, những tờ giấy điệp vẫn kiêu hãnh vươn mình trong gió rét. Nền giấy dó Nam Cao dẻo dai được bọc bởi lớp hồ nếp cái hoa vàng quấy chín kỹ lưỡng, quyện chặt bột vỏ điệp biển duyên hải Hải Đông giã mịn, đã tạo thành một lớp áo giáp tự nhiên ngăn từng giọt nước thấm vào thớ giấy. Mưa buốt rơi xuống mặt tranh không hề ngấm lan, mà đọng lại thành từng giọt nước tròn xoe, trong vắt như hạt ngọc, chầm chậm lăn dài trên mặt giấy rồi trượt xuống bãi cỏ.
Nước mưa rửa trôi bụi cát bến sông, càng làm cho sắc điệp bừng sáng lộng lẫy lạ thường. Dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm mùa đông, lớp vỏ điệp biển lấp lánh ánh xà cừ óng ả tựa dát bạc. Màu đỏ sỏi son suối Thau càng đượm vẻ trầm ấm thâm nghiêm; sắc vàng hoa hòe sao chín ngời lên tươi tắn; màu xanh lá chàm ủ vôi sâu thẳm như nước giếng làng; và những đường viền nét đen từ muội than rơm nếp lá tre già vẫn sắc lẹm, vững chãi, ôm trọn nụ cười rạng rỡ của chú bé ôm gà, ôm vịt. Không một vệt lem, không một giọt phai, bức tranh mộc bản tinh khôi tựa hồ vừa được nhấc ra khỏi chiếc nong phơi ngày nắng ráo.
Viên quan huyện Thuận Thành khoác chiếc áo cẩm bào màu xanh sẫm, bước chậm rãi ra khỏi chiếc lọng che. Đôi mắt từng trải của quan nhìn từ rạp bổi đen ngòm nồng nặc mùi hôi thối sang hàng tranh điệp đang tắm mình trong mưa phùn. Quan khẽ cất bước tiến lại gần sào nứa của cụ Nhượng.
Mấy vị khách buôn luống tuổi đất Thăng Long và các tay buôn Phố Hiến sành sỏi cũng vội vã rảo bước đi theo quan huyện. Một thương nhân kinh kỳ tóc hoa râm không nén nổi tò mò, giơ ngón tay run rẩy sờ nhẹ lên mặt tờ tranh đang hứng mưa. Ngón tay ông ta miết qua nét mực đen huyền, rồi đưa lên mắt nhìn. Ngón tay khô ráo, trắng sạch, không dính một mảy may muội than hay bột màu.
— Trời phật chứng giám! — Vị khách buôn kinh ngạc kêu lên, giọng run rẩy vì xúc động — Giấy không mủn một phân, màu không phai một tấc! Nước mưa chỉ như sương mai đọng trên cánh hoa sen! Đây mới đích thực là tranh mộc bản làng Mái truyền đời, thứ tinh hoa ngàn năm của xứ Kinh Bắc!
Quan huyện Thuận Thành gật đầu tấm tắc, đưa tay vuốt chòm râu ngắn, ánh mắt ngập tràn vẻ khâm phục nhìn cụ thợ cả bách niên:— Cụ Biền, thảo nào người đời xưng tụng cụ là bậc thợ cả đứng đầu bờ nam sông Đuống. Lòng kiên trinh giữ nghề của cụ bày tỏ trọn vẹn trên từng nét khắc, thớ gỗ và sắc điệp này. Mộc bản làng Mái không hề mai một, trái lại còn rực rỡ hơn xưa bội phần!
Cụ Nhượng khẽ cúi đầu, chắp hai tay trước ngực đáp lễ quan huyện và khách buôn, giọng cụ vẫn khoan thai như tiếng chuông chùa giữa sớm mùa đông — Đa tạ quan lớn và các quan bác đã thấu tỏ. Gốc thị nằm dưới phù sa trăm năm để chắt chiu thớ dẻo, con điệp biển ngâm ngàn con sóng để giữ lấy ánh xà cừ. Nghề của ông cha lấy dạ son đãi người, lấy sự chân thật làm gốc, dẫu mưa dập gió vùi cũng chẳng đổi thay.
Lúc bấy giờ, Quản Lợi đứng chết trân bên chiếc cột rạp xiêu vẹo. Mặt gã thương nhân cắt không còn một giọt máu, từ tím tái chuyển sang xám ngoét như tro tàn. Mồ hôi lạnh túa ra trên vầng trán bóng nhẫy, hòa cùng nước mưa đang chảy ròng ròng xuống cổ áo the ướt sũng. Đống tranh bổi rơm mục – vốn liếng mà gã dồn hết tâm cơ, tiền của vào để độc quyền ép giá – nay chỉ còn là một đống bùn đen nhầy nhụa, bốc mùi nồng nặc làm nhơ bẩn cả bến sông.
Cố vớt vát chút thể diện trong cơn tuyệt vọng, Quản Lợi run lẩy bẩy bước trượt trên lớp bùn nhão, hai tay vung vẩy lu loa — Bẩm… bẩm quan lớn! Các quan bác chớ vội phán tội! Đây là… là do trời làm mưa độc! Mưa trái mùa buốt quá làm đông cứng hồ, chứ tranh bổi của tôi phơi nắng hanh thì bền đẹp khôn xiết…
— Câm mồm ngay, đồ con buôn thất đức! — Một vị lái buôn lớn từ Phố Hiến giận dữ quát thẳng vào mặt gã, chỉ tay vào đống rơm mủn nát dưới chân — Mưa phùn mùa đông xứ này năm nào chẳng có, cớ sao tranh cụ Biền óng ả như vàng mười, còn tranh của chú mày lại hóa thành đống phân bùn hôi thối?
— Trả tiền cọc lại cho chúng tôi! — Hàng chục tiếng thét giận dữ của các thuyền buôn đồng loạt dội lên — Quân lừa đảo! Đem thứ phẩm bẩn thỉu hại người này sang trấn ngoài thì thợ tranh chúng tôi còn mặt mũi nào nhìn thiên hạ? Đền tiền! Đền tiền ngay!
Làn sóng phẫn nộ của khách buôn và dân làng sôi sục dâng cao, vây kín lấy rạp hàng khiến mấy tên gia nhân của gã thương nhân co rúm lại sợ hãi. Nhận thấy tình thế đã hoàn toàn sụp đổ, tội lừa lọc phơi bày trước mắt quan phủ, Quản Lợi lấm lét liếc nhìn tứ phía, khẽ nháy mắt ra hiệu cho hai tên tùy tùng toan lẻn vào đám đông bên mé sông nhằm lủi trốn.
Đúng lúc bàn chân gã vừa toan thụt lùi sau gốc xoan cằn, một tiếng thét đanh thép bỗng xé toạc màn mưa gió lạnh từ đầu bến đò — Quản Lợi, đứng lại! Mày định chạy đi đâu?
Đám đông giật mình dạt sang hai bên. Cụ Nhượng nheo mắt nhìn qua làn mưa buốt giá, thấy chú thợ trẻ Đỗ Lạc cùng bác Phó Cả Dần đang sừng sững tiến lại. Bác Dần hai tay giữ chặt lấy một gã đàn ông mặc áo tơi rách, đầu trùm kín manh vải sô ẩm ướt đang giãy giụa như cá mắc cạn, áp giải thẳng vào trước nơi quan huyện đang đứng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
