Chương 20: Hội Chợ Bên Triền Sông
Tiếng trống lệnh từ mé bến sông dồn dập dội vào vách liếp gian nhà đông, từng hồi giòn giã thúc giục như lửa táp sau lưng. Cụ Biền Duy Nhượng khẽ buông vạt áo the nâu, chầm chậm thở ra một hơi dài xua tan cảm giác ran rát nơi cuống họng. Đôi bàn tay cụ nâng niu mép giấy điệp vừa lật, ánh mắt bách niên dừng lại thật lâu nơi khuôn mặt bầu bĩnh của chú bé ôm gà trống. Nét mực than nếp đen tuyền mềm mại ôm lấy sắc trắng vỏ điệp biển, lấp lánh như có nắng sớm đọng trên lớp vảy bạc.
Thằng An đứng nép bên chõng, hai bàn tay quấn vải nâu khẽ run lên vì xúc động. Thằng bé ngước nhìn cụ cố, giọng rụt rè — Cụ ơi, thuyền buôn cắm cờ hội cập bến rồi... Mình có kịp mang tranh ra đọ sắc không cụ?
Bác Phó Cả Dần từ ngoài thềm bước vội vào, hai bắp tay vương đầy bột điệp và vệt son đỏ thắm. Bác chắp tay trước ngực, giọng bộc trực mà ấm áp lạ thường — Thưa cụ, bốn mươi đôi tranh Vinh Hoa Phú Quý dập từ đêm qua đến giờ đã hong se mặt trên sào nứa. Anh em thợ làng đang cẩn thận lót từng lớp giấy bản, xếp gọn vào hai bồ mây lót lá chuối khô. Chỉ đợi cụ phát lệnh là chúng con gánh thẳng ra bến đò.
Cụ Nhượng mỉm cười, chòm râu cước rung nhè nhẹ. Cụ với lấy chiếc gậy tre đực đã lên nước bóng lộn nơi góc cột cái, khẽ gõ nhẹ xuống nền đất — Tuần tiết không đợi người, nhưng thớ gỗ thơm và lòng dạ ngay thẳng thì chẳng sợ muộn mằn. Các con thu xếp cho chu tất, ta cùng ra bến đón khách kinh kỳ.
Sáng sớm ngày rằm tháng Chạp, triền đê nam sông Đuống bừng lên không khí tấp nập của phiên chợ tranh lớn nhất trong năm xứ Kinh Bắc. Mặt sông mờ mịt hơi sương bỗng chốc rực rỡ bởi hàng trăm cánh buồm nâu và cờ hội ngũ sắc phần phật bay trong gió bấc. Thuyền buôn từ kinh thành Thăng Long, thuyền mành buôn cau chở gốm từ Phố Hiến ngược xuôi tấp nập, tiếng hò reo, tiếng mái dầm bì bõm quẫy nước hòa cùng tiếng cười nói râm ran cả một khúc sông dài.
Thế nhưng, chiếm trọn bãi đất bằng phẳng ngay đầu con dốc dẫn xuống bến đò là một rạp gỗ lợp vải bạt hoa lộng lẫy. Dưới mái rạp, thương nhân Quản Lợi chễm chệ ngồi trên chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ, khoác chiếc áo the thâm bóng nhẫy, ngón tay mập mạp đeo nhẫn ngọc gõ nhịp xuống khay đồng. Chung quanh gã, hàng ngàn tờ tranh bổi đen đúa được treo la liệt trên dây gai, xếp tầng tầng lớp lớp trên các phản gỗ. Mùi nồng hắc của than bùn lẫn lưu huỳnh xộc thẳng vào mũi khách bộ hành, át cả mùi bùn non bãi bồi.
Thấy mấy tay buôn lớn chít khăn xếp từ thuyền Thăng Long bước lên bờ, Quản Lợi liền đứng phắt dậy, nụ cười giả lả nở rộng trên gương mặt tròn bóng nhẫy — Kính chào các quan bác! Mời các bác ghé tệ xá xem hàng. Năm nay đình làng Mái gặp hỏa hoạn đêm Lập đông, bộ mộc bản cổ trăm năm đã hóa thành tro bụi, làng nghề tuyệt tích ván tổ rồi! Giờ chỉ có xưởng của Quản Lợi tôi đây xuất được vạn tờ tranh Tết cho các trấn ngoài. Giá chỉ bằng nửa năm ngoái, mua mười thiệp tôi tặng thêm hai thiệp đem lộc về nhà!
Mấy người buôn tranh dừng chân, cầm tờ tranh bổi lên ngắm nghía rồi khẽ cau mày trước chất giấy xốp mục, dễ rách và mùi khét lẹt bốc ra từ mặt giấy. Đúng lúc sự ngờ vực đang dâng lên trong đám đông, tiếng gậy tre gõ đều đặn cất lên từng nhịp chắc nịch từ phía con dốc thoải.
Cụ Biền Duy Nhượng khoan thai bước tới. Cụ mặc bộ áo the cổ màu nâu sồng lành lặn, chít khăn mỏ rìu ngay ngắn trên vầng trán quắc thước. Đi sau cụ là thằng An dong dỏng cao, hai tay kính cẩn ôm chiếc tráp sơn then bọc vải điều đỏ thắm. Bác Phó Cả Dần cùng Đỗ Lạc gánh hai bồ mây trĩu nặng, theo sau là cả phường thợ làng Mái quần áo nâu sồng, ánh mắt ai nấy đều sáng rực vẻ kiêu hãnh và tự tin.
Sự xuất hiện của cụ thợ cả tám mươi tám tuổi lập tức khiến góc chợ bến sông xôn xao. Một vị khách buôn luống tuổi từ Thăng Long reo lên — Kìa, cụ Cả Biền! Nghe đồn cụ ngã bệnh sau vụ cháy đình, hóa ra cụ vẫn khỏe mạnh thế này!Cụ Nhượng dừng bước giữa khoảng đất trống trước cây đa bến đò, chắp tay chào bà con và khách buôn bốn phương. Giọng cụ ấm trầm, vang xa qua làn sương đông — Thưa các bác, các chú khách buôn và bà con chòm xóm. Đình làng có thể bén lửa vì kẻ gian, nhưng cái tâm của người thợ và linh hồn đất Mái thì đời đời không bao giờ cháy rụi. Hôm nay phiên chợ rằm, già này cùng con cháu dâng lên tổ nghề và bà con đôi tranh Vinh Hoa Phú Quý mới dập từ thớ gỗ thị ngàn năm.
Cụ khẽ gật đầu ra hiệu. Thằng An bước lên một bước, trịnh trọng mở tấm vải điều phủ trên nắp tráp. Bác Dần nhanh nhẹn nhấc từng đôi tranh cài trên nẹp tre, giăng lên chiếc sào nứa dựng giữa thanh thiên bạch nhật.
Khoảnh khắc lớp vải điều rời ra, cả bãi chợ bến đò như lặng phắc đi một nhịp.
Dưới chút ánh sáng ban mai vàng hoe hắt qua màn mây xám, những tờ tranh in trên giấy điệp bừng sáng lên một vẻ đẹp kỳ ảo. Nền giấy dó Nam Cao quét bột điệp biển óng ánh sắc xà cừ như dát một lớp bạc mỏng manh mà kiêu hãnh. Từng đường gân lá thông nổi rõ, làm bệ đỡ cho năm sắc màu tự nhiên khoe duyên: sắc đỏ thắm trầm ấm của sỏi son suối Thau, sắc vàng ươm dịu ngọt của hoa hòe sao chín, sắc xanh thăm thẳm của lá chàm ủ vôi, và nổi bật hơn cả là những đường nét đen huyền từ muội than rơm nếp lá tre, uốn lượn mềm mại ôm lấy thân hình bụ bẫm của em bé ôm gà, ôm vịt. Nét mặt chú bé tươi vui, rạng rỡ, đôi mắt như biết cười, cúc áo nở bung như cánh hoa chào đón mùa xuân no ấm.
— Tuyệt phẩm! Đúng là tranh mộc bản làng Mái đây rồi! — Vị khách buôn kinh kỳ thốt lên, hai tay run run đỡ lấy mép tranh — Sắc điệp óng ả, màu son tươi tắn mà không hắc nồng, thớ nét mềm như lụa thế này thì chỉ có tay đục bách niên mới làm nổi!
Khách buôn từ các thuyền rào rào kéo vây quanh gánh tranh của cụ Nhượng, bỏ mặc rạp hàng lộng lẫy của Quản Lợi bên cạnh. Tiếng trầm trồ khen ngợi vang lên không ngớt.
Mặt Quản Lợi từ đỏ ửng chuyển sang tím tái. Gã cắn chặt môi, mắt đảo nhanh như chớp nhìn hai bồ tranh điệp đang được khách buôn tranh nhau đặt tiền kẽm. Không nén nổi cơn giận dữ, gã xăm xăm bước ra giữa bãi chợ, hất hàm sai mấy tên gia nhân vây quanh rồi cao giọng the thé — Khoan đã các quan bác! Đừng để mắt lừa tai dối! Khắc gỗ vội vàng trong mươi hôm thì làm sao giữ được thớ? Gỗ non ngâm nước bẩn vài bữa là mốc meo nứt toác, giấy quét vôi giả điệp gặp gió hanh là bong tróc từng mảng ngay! Thứ tranh làm xổi ấy mang về kinh kỳ, qua giêng nứt nét thì các bác đền trắng mắt!
Quản Lợi bước tới sát mặt cụ Nhượng, khóe mắt giật giật, giọng đầy thách thức — Cụ Biền, cụ dám đem tranh của cụ đọ độ bền với tranh bổi của tôi ngay giữa thanh thiên bạch nhật này không?
Bác Dần nghiến răng định bước lên cự lại thì cụ Nhượng đã khẽ đưa cây gậy tre chắn ngang. Cụ đứng sừng sững trước gió bấc, đôi mắt đùng đục nhìn thẳng vào khuôn mặt bóng nhẫy của tay thương nhân, điềm đạm cất tiếng — Anh lái Lợi này, vàng thật không sợ lửa, gỗ thị ngàn năm cùng vỏ điệp biển sâu thì sá gì thử thách của trời đất. Lòng dạ người thợ bày ra trên mặt giấy, sáng hay đục, bà con khắc rõ.
Ngay giữa lúc không khí đối chất gay gắt đến nghẹt thở trước sự chứng kiến của viên quan huyện Thuận Thành vừa tới bến đò và hàng trăm con mắt đổ dồn lại, trên bầu trời xám xịt bỗng cuộn lên một luồng gió lạnh buốt. Mây đen từ mạn núi Thiên Thai sà xuống thấp tịt, và rồi những hạt mưa phùn mùa đông nặng hạt bất thần rải đều xuống khắp bãi chợ bến sông, làm ướt đẫm những hàng tranh đang phơi bày giữa khoảng không gian lộng gió.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
