Chương 1: Lửa Thiêu Mộc Bản

Tiếng mõ tre thúc liên hồi xé toạc đêm Lập đông tĩnh mịch bên bờ nam sông Đuống. Từng hồi “cắc… cắc… tum…” dồn dập vang lên hòa cùng tiếng la hét thất thanh từ đầu làng — Cháy! Cháy đình rồi ối làng nước ơi! Cứu đình với!

Cụ Biền Duy Nhượng giật mình choàng tỉnh trên chiếc chõng tre. Đôi mắt già nua tám mươi tám tuổi chưa kịp định thần đã bị ánh lửa đỏ quạch rọi sáng qua khe liếp nứa gian nhà đông. Gió bấc rít từng cơn lạnh buốt xương, nhưng hơi nóng từ phía đầu xóm bốc lên hầm hập. Trong lồng ngực cụ, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy khỏi cuống họng.

Nơi ấy là đình làng Mái, nơi cất giữ linh hồn của cả phường thợ.

— Cụ ơi! Ngoài đình cháy to lắm rồi cụ ơi!

Thằng An mười hai tuổi hớt hải xô cửa chạy xộc vào. Thằng bé mình mặc manh áo cộc vá vai, chân không kịp xỏ guốc, gương mặt tái nhợt vì hoảng sợ. Chưa đợi chắt nội đỡ tay, cụ Nhượng đã quơ vội ngọn gậy tre đầu giường, quấn chiếc khăn mỏ rìu bạc màu lên trán rồi sải bước thoăn thoắt ra sân. Cụ dắt tay thằng An, bước chân dồn dập bấm chặt xuống mặt ngõ trơn nhẫy sương đêm.

Trước mắt hai cụ cháu, ngôi đình năm gian mái cong chạm rồng phượng uy nghiêm ngút trời bấy lâu nay đang chìm trong biển lửa đỏ rực. Khói đen cuồn cuộn bốc lên cao ngất, tàn lửa bay lả tả theo ngọn gió bấc phần phật thổi từ bãi sông vào. Dưới sân gạch Bát Tràng, dân làng Mái nhốn nháo như ong vỡ tổ. Người gánh thùng nước, kẻ bưng chậu thau, tiếng thùng gỗ va đập chan chát vào thành giếng khơi, tiếng gọi nhau thất thanh đến khản cả giọng — Múc nước! Hắt lên mái gian giữa mau lên kẻo sập!

— Không kịp đâu, lửa bén vào đống rơm khô cạnh tường hồi rồi!

Cụ Nhượng nhìn ngọn lửa hung hãn đang l**m láp từng vì kèo, rui mè gỗ lim phát ra những tiếng nổ lép bép kinh hoàng mà rụng rời tay chân. Ánh mắt cụ dán chặt vào hương án gian giữa. Nơi ấy, trong chiếc rương gỗ gụ khóa đồng, có cất bộ ván in mộc bản “Vinh Hoa Phú Quý” gồm trọn vẹn cả ván nét lẫn ván màu. Đó là bảo vật ba đời truyền lại hơn một trăm năm của dòng họ Biền và cả làng Mái, nơi gửi gắm thớ gỗ dẻo dai cùng nhát đục tài hoa của tổ tiên truyền đời.

— Bộ ván cổ… ván tổ còn ở trong ấy! — Cụ Nhượng thảng thốt kêu lên, buông tay chắt An rồi cắm đầu định lao thẳng qua bức màn lửa.

— Cụ Cả! Không được vào! Nguy hiểm tính mạng cụ ơi!

Bác Phó Cả Dần từ mé giếng xách đôi thùng chạy vụt tới, bắp tay cuồn cuộn vội ghì chặt lấy vai cụ già. Cùng lúc, hai tên tuần đinh lực lưỡng cũng hộc tốc chạy sang chắn ngang trước mặt, dùng cán giáo ngăn cụ lại — Cụ Nhượng bình tĩnh lại! Gian giữa bén lửa tới xà nóc rồi, cụ vào lúc này là mất mạng đấy!

— Buông tao ra! — Giọng cụ Nhượng nghẹn đặc trong khói rơm khét lẹt, đôi mắt quắc thước đỏ hoe giần giật — Cả đời làng Mái chỉ có một bộ ván in ấy! Mất ván là mất nghề, mất cả cái bát cơm của con cháu ngày Tết! Thả tao ra để tao cứu ván!

Cụ giãy giụa bằng sức lực của một lão thợ già cả đời gắn bó với từng thớ gỗ tấc cây, nhưng một ông lão gần chín tuần làm sao đọ nổi sức vóc cánh trai tráng tuần đinh. Thằng An đứng nép một bên ôm chặt lấy vạt áo cụ cố, nước mắt giàn giụa rơi lã chã — Cụ ơi, con xin cụ! Cụ đừng vào, lửa táp cháy cả tóc cụ rồi…Một tiếng “rầm” long trời lở đất vang lên. Cột cái gian giữa cháy rụi phần chân, không chịu nổi sức nặng của mái ngói vảy cá liền đổ sụp xuống. Tàn tro, ngói vỡ và lửa đỏ bắn tung tóe lên nền gạch. Tiếng la ó dập nước tắt lịm trong nỗi bàng hoàng tuyệt vọng của hàng trăm con người.

Gió bấc vẫn hun hút thổi qua bãi bồi ven sông Đuống, cuốn theo tàn tro mịt mù.

Khi trời rạng sáng bằng một dải mây màu chì u ám, đám cháy mới dần tàn rụi. Khắp gian tiền tế và hậu cung chỉ còn lại những thân cột lim cháy đen thui như những khúc than khổng lồ chĩa lên trời cao, khói xám vẫn âm ỉ bốc lên từ đống ngói vụn.

Cụ Nhượng run rẩy gạt tay mọi người, lê từng bước chân nặng trĩu tiến vào đống đổ nát. Chiếc rương gỗ gụ nơi gian giữa đã cháy thành than vụn. Nằm trơ trọi giữa lớp ngói đỏ sụp đổ là những phiến gỗ thị mộc bản “Vinh Hoa Phú Quý” nức tiếng gần xa. Những đường nét chạm khắc tinh xảo hình đứa bé mũm mĩm ôm con gà trống đại cát, đứa bé ôm con vịt xanh ngời ngợi… nay chỉ còn là những mảnh than đen xì, nứt toác, vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ chẳng thể nào hàn gắn.

Cụ Nhượng quỳ sụp xuống nền gạch lem luốc, đôi bàn tay gân guốc thô ráp run rẩy vốc lấy một nắm than tro còn bỏng rát. Cả cuộc đời tám mươi tám năm cầm dao cầm đục, cụ chưa từng thấy nỗi đau nào xé ruột xé gan đến nhường này. Hơn một trăm năm trước, ông nội cụ đã dốc cạn tâm huyết đẽo từng nét vát; đến đời cha cụ, rồi đến con trai cụ nâng niu giữ gìn từng vạt màu. Vậy mà chỉ trong một canh giờ, ngọn lửa tàn độc đã nuốt trọn tất cả.

Lý trưởng Đặng Khoái chắp tay sau lưng, bước lại gần đống đổ nát, thở dài sườn sượt rồi lắc đầu chép miệng — Khổ thật đấy! Đình làng cháy rụi, lại thiêu sạch cả bộ mộc bản truyền đời thế này thì đúng là đại hạn. Ván tổ mất rồi, mùa tranh Tết năm nay coi như vứt đi. Làng Mái phen này lấy gì mà nộp thuế má cho quan trên, lấy gì mà ăn Tết đây? Rõ là điềm gở giáng xuống làng ta!

Tiếng than thở của viên lý trưởng khiến không khí sân đình càng thêm ủ dột, thê lương. Nhiều thợ già trong làng gục đầu xuống gối nấc nghẹn, những người đàn bà làm nghề quét điệp quẹt nước mắt vào mép khăn vuông.

Bỗng nhiên, từ mé cổng đình lát đá ong, một giọng nói oang oang, trơn tru cất lên xua tan đi sự im lặng tang tóc — Ấy, việc đã lỡ rồi, ông Lý với bà con than khóc mãi phỏng có ích gì! Trời hạn thì phải tìm đường mà lội chứ!

Mọi người quay lại. Một người đàn ông chừng bốn mươi hai tuổi, thân hình béo tốt đẫy đà, mặc áo the thâm lụa bóng lộn đang ung dung rảo bước vào sân. Ngón tay gã đeo chiếc nhẫn ngọc sáng loáng, gương mặt tròn bóng nhẫy dầu mỡ nở một nụ cười giả lả khó đoán. Đó chính là thương nhân Quản Lợi, tay lái buôn tranh có máu mặt nhất ngoài phố huyện Thuận Thành. Đôi mắt ti hí của gã đảo nhanh như chớp qua quang cảnh hoang tàn, rồi kín đáo dừng lại nơi đống mộc bản đã thành than tro với tia nhìn bí hiểm.

Quản Lợi bước tới gần cụ Nhượng, vờ vịt chắp tay cúi đầu — Nghe tin đình làng Mái ngộ hỏa, tôi tức tốc đánh xe từ phố huyện về đây ngay. Thấy bộ ván cổ của cụ Cả ra nông nỗi này, tôi thật xót xa không để đâu cho hết. Nhưng người xưa bảo “cũ không đi thì mới không đến”, các bác các chú cứ yên tâm, có lái buôn Quản Lợi này ở đây thì bà con chẳng lo chết đói đâu!

Gã vừa nói vừa liếc mắt nhìn lớp than tro dưới chân cụ Nhượng, giọng điệu trơn tuột vờ vịt xót thương nhưng thoáng vẻ đắc ý khôn giấu.

Cụ Nhượng không buồn ngước mắt nhìn gã buôn lươn lẹo. Cụ vẫn ngồi lặng như pho tượng đá giữa tro tàn, ngón tay cái miết nhẹ vào nắm bụi đen còn ấm sực dưới chân cây cột cháy dở.

Bỗng nhiên, đôi lông mày bạc như cước của cụ khẽ giật giật.

Cụ đưa bàn tay lên gần mũi, khẽ hít một hơi thật sâu. Lạ lùng thay, lẫn trong mùi khói rơm rạ ẩm ướt và mùi nồng của tro than, xộc thẳng vào khứu giác cụ là một mùi hôi nồng khét lẹt rất kỳ quái. Mùi ấy ngai ngái, ngột ngạt và cay xè khó chịu, khác xa hoàn toàn với mùi thơm dịu ngọt, thanh khiết của thớ gỗ thị ngàn năm khi bén lửa than hồng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.