Chương 18: Thức Tỉnh Phường Thợ

Lời thú nhận của Đỗ Lạc như sét đánh ngang tai, khiến lồng ngực bác Phó Cả Dần thắt nghẹn lại. Đôi mắt bác trợn trừng, hai quai hàm bạnh ra ken két khi nhìn trân trối vào người thợ trẻ đang quỳ phục dưới chân cụ Nhượng. Hóa ra cái đêm Lập đông oan nghiệt thiêu rụi ngôi đình cổ cùng ván khắc truyền đời không phải do trời phạt hay ngộ hỏa, mà chính là bàn tay tàn độc của lũ con buôn lòng lang dạ thú. Mối căm hờn bao ngày dồn nén trong lòng người thợ dập tranh bỗng chốc bùng lên như đống rạ bén lửa.

Bác Dần bước xộc tới, túm lấy bả vai Đỗ Lạc nhấc bổng dậy — Chú Lạc! Chú có dám đem cái mạng của mình ra thề trước vong linh tổ nghề, dám đi cùng tôi sang ngay rạp bổi đầu làng để nói toạc điều này cho toàn thể bạn thợ nghe không?

Đỗ Lạc lau vội vệt nước mắt còn đọng trên gò má hốc hác, ngước nhìn ánh mắt rực lửa của bác Dần rồi gật đầu lia lịa — Cháu dám! Cháu đã trót mang tội lừa thầy phản bạn, giờ có chết cháu cũng phải nói ra để chuộc lại phần nào tội lỗi!

Bác Dần quay sang chắp tay trước cụ Nhượng, giọng rưng rưng mà đanh thép — Thưa cụ, giọt nước đã tràn ly rồi. Con không thể ngồi yên nhìn bà con phường thợ bị lão Quản Lợi bịt mắt xỏ mũi, vắt kiệt mồ hôi nước mắt trong vũng bùn tanh hôi ấy nữa. Con xin phép cụ dắt chú Lạc đi một chuyến!

Cụ Nhượng nhìn bác Dần hồi lâu rồi khẽ thở dài một tiếng, đôi mắt đùng đục ánh lên nét bao dung mà cương nghị. Cụ gật đầu, đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay còn sần sùi của người học trò cũ — Đi đi con. Nói cho bạn thợ hiểu bằng cái lý, cái tình của người làng Mái. Đừng động tay động chân, kẻo mang tiếng phường thợ chuộng điều bạo ngược.

Thằng An vội chạy lại góc sân, nhấc xuống một dải giấy dó vừa quét điệp óng ánh lớp bột xà cừ khô ráo, cuộn tròn lại đưa cho bác Dần. Bé Mận từ bậu cửa bước ra, giơ đôi bàn tay còn quấn lớp vải đắp lá chàm xanh rờn, lí nhí — Thầy ơi, con đi với thầy! Con muốn để các bác ấy thấy tay con đã suýt tàn phế thế nào vì thứ than bẩn thỉu của lão buôn Lợi!

Bác Dần cúi xuống bế xốc con gái nhỏ vào lòng, một tay cầm chắc cuộn giấy điệp, giục Đỗ Lạc rảo bước xuyên qua màn đêm buốt giá. Gió bấc rít từng hồi u u qua rặng tre ngà ven đê, nhưng ngọn lửa căm phẫn trong lồng ngực bác Dần dường như đã xua tan đi cái lạnh cắt da cắt thịt.

Đầu làng Mái, khu rạp dập tranh bổi do Quản Lợi dựng lên vẫn đỏ quạch ánh đèn dầu hôi nồng nặc. Vừa bước đến gần, mùi khói khét lẹt của bột than bùn tẩm lưu huỳnh và hơi vôi tôi ngai ngái đã sực vào mũi khiến bác Dần lợm giọng. Dưới mái rạp lợp lá gồi xơ xác, hàng chục người thợ làng Mái c** tr*n trùng trục giữa đêm đông, da thịt bám đầy muội đen nhẻm, đang gập lưng miết những bản chà xơ mướp lên từng thếp giấy bổi rơm mục xỉn màu. Tiếng ho sù sụ khan đặc vang lên không ngớt át cả tiếng dập búa. Mặt người nào người nấy hốc hác như những bóng ma, hai bàn tay lở loét tấy đỏ vì chất độc ngấm sâu vào kẽ móng.

Bác Dần bước phắt vào giữa rạp, giáng mạnh gót chân xuống sàn đất nện khiến chiếc bàn con đựng phẩm màu rung bần bật — Dừng tay hết lại cho tôi! Các bác, các chú thợ làng Mái ơi!

Tiếng quát sang sảng như chuông đồng của bác Dần làm cả dãy rạp giật thót. Hàng chục đôi mắt trũng sâu, mệt mỏi cùng ngẩng lên ngơ ngác. Bác thợ Thược — một thợ in có tiếng trong làng — quệt mồ hôi trán lẫn muội than đen kịt, cất giọng khản đặc — Bác Phó Dần đấy à? Nửa đêm nửa hôm bác sang đây làm gì? Lão Quản Lợi giao hạn chỉ còn hai ngày nữa phải nộp đủ ba ngàn tờ tranh bổi, chậm một buổi là lão trừ nửa tiền công, chúng tôi nào dám ngơi tay...

— Tiền công ư? — Bác Dần cười gằn, đặt bé Mận đứng lên chiếc chõng tre giữa rạp, rồi giơ cao đôi bàn tay con bé còn nồng mùi lá chàm tươi — Các người mở to mắt ra mà nhìn con Mận nhà tôi đây này! Mấy hôm trước nó chỉ phụ tôi bưng liễn than bùn của lão Lợi mà chất độc lưu huỳnh ngấm vào ruột, nôn mửa ra mật xanh mật vàng, tay chân lở loét suýt nữa thì táng mạng! Nếu không có cụ Cả Nhượng dốc lòng bấm huyệt, cho uống nước rễ tranh sắn dây giải độc thì giờ này tôi đã phải chôn con dưới bãi tha ma rồi!Đám thợ xôn xao, vài người thợ trẻ hoảng hốt nhìn lại đôi bàn tay đang sưng vù tấy đỏ rỉ nước vàng của chính mình. Bác Dần vung tay trải dải giấy điệp trắng ngà mà An đưa lúc nãy lên mặt bàn bẩn thỉu. Dưới ánh đèn dầu, lớp bột vỏ điệp biển lấp lánh ánh xà cừ óng ả, tỏa ra mùi thơm dịu ngọt của hồ nếp cái hoa vàng và hương the mát của lá thông già, át hẳn mùi tanh tưởi của vôi thối và lưu huỳnh.

Bác Dần dằn từng tiếng, ngực phập phồng giận dữ — Đây mới là hồn cốt tranh làng Mái! Cha ông ta mấy đời đổ mồ hôi gom từng mảnh vỏ điệp biển, nhặt từng bông hoa hòe, giã từng viên sỏi son để tạo nên những bức tranh mang lại phước lộc cho thiên hạ đón Tết. Thế mà lũ chúng ta vì mấy đồng tiền kẽm còm cõi, đi rước cái thứ rác rưởi độc hại của thằng lái buôn phố huyện về bôi tro trát trấu vào mặt tổ nghề, đầu độc con trẻ xứ người!

Đám thợ im phăng phắc, chỉ còn tiếng th* d*c nặng nhọc và tiếng gió bấc lùa qua kẽ liếp. Lúc này, Đỗ Lạc từ phía sau bước lên, hai đầu gối khuỵu xuống đất bùn, cất giọng nức nở vỡ òa — Thưa các bậc cha chú... Cháu chính là thằng khốn nạn vừa nhận liễn nước vôi tôi của lão Lợi, toan sang hắt vôi phá hoại vại màu của cụ Nhượng để lão xóa cho món nợ mười lăm quan tiền! Nhưng cụ Cả đã không đánh, không trói, cụ còn nhường cho cháu bát cháo hoa nóng ấm lòng sưởi dạ! Cháu không thể câm miệng được nữa... Đêm Lập đông vừa rồi, chính mắt cháu nhìn thấy thằng Trương gia nhân của lão Lợi ôm bùi nhùi tẩm dầu trẩu và bột lưu huỳnh ném vào vách đình phóng hỏa! Lão cố tình đốt đình thiêu rụi ván tổ để ép làng ta phải làm thứ tranh bổi mạt hạng này cho lão thu lời bạc vạn!

"Ầm!"

Lời Đỗ Lạc vừa dứt, cả gian rạp như nổ tung. Bác thợ Thược trợn tròn mắt, mặt đỏ gay vì phẫn nộ. Bác quăng phăng bản chà xơ mướp dập tranh xuống vũng bùn lầy dưới chân, đạp mạnh một phát khiến chồng giấy bổi rơm mục văng tung tóe — Đồ súc sinh dã man! Hóa ra đình làng bốc cháy là do bàn tay dơ bẩn của lão buôn Lợi! Chúng ta cắm đầu cắm cổ làm việc cho kẻ thù giết hại linh hồn làng mình mà không biết!

— Trả lại tiền cọc cho lão! Đập bỏ thứ tranh than bẩn thỉu này đi! — Hàng chục thợ làng đồng thanh gầm lên giận dữ. Những chổi quét hồ xơ xác, những thếp giấy bổi xốp mục bị vứt la liệt khắp nền đất. Không ai bảo ai, mọi người ùa ra vại nước mưa, dùng cát và tro bếp cọ rửa cuống cuồng đôi bàn tay đen đúa, như muốn gột sạch nỗi ô nhục bấy lâu.

Bác Thược bước lại gần, nắm chặt lấy bả vai bác Dần, khóe mắt rưng rưng — Bác Phó Dần ơi... Liệu cụ Cả có tha thứ cho sự u mê, mù quáng vì miếng cơm manh áo của lũ chúng tôi không?

Bác Dần siết chặt tay bác Thược, nở nụ cười rạng rỡ giữa màn đêm — Cụ vẫn ngồi chong đèn đợi bà con đấy! Mau lên, về xưởng cụ Cả thôi!

Chẳng mấy chốc, hàng chục ngọn đuốc nứa bùng cháy rực rỡ, xé toang màn sương đêm lạnh giá. Cả đoàn thợ làng Mái vai chen vai, thắp sáng cả con đường làng rộn rã bước chân trở về gian nhà ba gian của cụ Biền Duy Nhượng.

Khi cổng liếp xưởng tranh mở toang, ánh đuốc vàng rực soi rõ khoảnh sân gạch chật kín bóng người. Hàng chục người thợ già trẻ đồng loạt quỳ sụp xuống trước thềm hiên, nghẹn ngào chắp tay — Cụ Cả ơi! Chúng con u mê lầm lỡ, đã nhận ra chân giá trị của tổ nghề rồi! Xin cụ Cả xá tội cho chúng con, cho chúng con được xúm tay gánh hồ quét điệp, cùng cụ thức trắng đêm nay đục lại ván tranh Tết của làng!

Thằng An đứng bên bàn thợ, đôi mắt tròn xoe ngấn nước vì xúc động. Bác Dần bước lên bực thềm, đặt tay lên vai An, lòng tràn ngập một niềm tự hào khôn xiết.

Ngồi trên chiếc chõng tre quen thuộc, cụ Biền Duy Nhượng ngước nhìn khắp lượt con cháu làng nghề bằng ánh mắt chan chứa yêu thương. Nụ cười phúc hậu bách niên nở trên gương mặt hằn sâu nếp nhăn thời gian của cụ. Cụ khẽ nâng tay toan cất lời, nhưng rồi ngực cụ bỗng thắt lại, cụ ho khẽ một tiếng khô khốc, bàn tay gầy guộc run rẩy suýt nữa thì làm rơi ngọn đục ngô bằng thép già đang khắc dở từng đường nét viền cánh hoa cúc trên phiến gỗ thị vàng ươm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.