Chương 16: Sắc Điệp Lấp Lánh Ánh Trăng
Bóng mấy người đàn ông sau bụi tre đực khẽ rụt lại khi thấy thằng An trừng mắt nhìn ra. Bác Phó Cả Dần cũng vừa buông chày đá, đứng phắt dậy bước ra đầu thềm, cất giọng sang sảng xé toang làn sương lạnh — Ai thập thò ngoài rào đấy? Có việc gì thì đàng hoàng bước vào cổng, việc gì phải rúc bờ rúc bụi như phường trộm gà!
Nghe tiếng quát như sấm lệnh của bác thợ in cự phách, mấy bóng đen giật mình lùi lũi dạt ra lối ngõ. Một người trong số đó kéo sụp chiếc nón mê rách, ngập ngừng cất tiếng đắng chát vọng qua hàng dâm bụt — Bác Cả Dần ơi... chúng tôi chỉ đi ngang qua, thấy sân nhà cụ đỏ rực sắc son nếp ấm... thèm quá nên đứng ngắm một lát thôi. Chứ ngoài rạp bổi... mùi than hôi buốt óc, nhức buốt hai bàn tay chịu không thấu bác ạ...
Tiếng thở dài não nuột trôi theo gió bấc, rồi những bước chân lẹp kẹp vội vã lủi dần về phía đầu làng. Cụ Nhượng khẽ lắc đầu, ánh mắt đượm vẻ xót xa nhìn theo rặng tre xơ xác. Cụ vỗ nhẹ vai An, ôn tồn bảo — Kệ họ đi con. Miếng cơm manh áo làm mờ mắt người ta một lúc, rồi cái rét, cái đau sẽ nhắc họ nhớ lại thớ gỗ bát hồ. Việc của thầy trò ta là lo cho trọn mẻ điệp đêm nay.
Chờ đến chập tối, vầng trăng thượng tuần đã nhô lên khỏi ngọn tre già ven sông Đuống. Đêm mùa đông buốt giá nhưng bầu trời quang đãng lạ lùng, ánh trăng vằng vặc dát bạc xuống khoảng sân đất nện phẳng phiu trước gian nhà đông. Thằng An xốc lại tấm vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi bọc quanh bàn tay, cùng bác Dần khênh chiếc thúng đan bằng tre cật đặt giữa sân. Trong thúng là những tảng vỏ điệp biển dày dặn, trắng muốt, bóng bẩy như vảy cá kình do thuyền buôn ngược dòng sông Đuống từ mạn duyên hải Hải Đông chở về từ tháng trước.
Cụ Nhượng ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói trải bên cối đá xanh, tay lần dở từng mảnh vỏ sò vỏ điệp. Cụ nhặt lên một mảnh dày dặn, đưa lên đón ánh trăng soi ngắm — Điệp biển xứ đông phải chọn thứ vỏ sò già, ngâm rửa nước ngọt cho thôi hết mùi mặn mòi của biển cả mới dùng được. Giã điệp không được nóng vội, phải giã bằng nhịp thở đều, chày nện xuống phải đầm, cốt để vỡ vụn thành bột mịn mà không mất đi cái vảy lấp lánh như xà cừ.
Bác Phó Cả Dần gật đầu, hai bàn tay chai sần chộp lấy chiếc chày đá nặng trịch. Tiếng chày “thình thịch... cắc... thình thịch...” lại vang lên đều đặn, rộn ràng giữa đêm thanh vắng. Từng mẩu vỏ điệp biển vỡ giòn tan dưới sức nặng ngàn cân, rạn ra thành muôn ngàn mảnh vụn nhỏ li ti. Thằng An quỳ một bên gối, đón lấy chiếc rây bịt bằng ba lớp vải màn mỏng tanh, cẩn trọng rây từng vốc bột vụn từ lòng cối sang chiếc liễn sành da lươn.
Dưới ánh trăng đông vằng vặc rọi thẳng vào lòng liễn, lớp bột điệp mịn màng như hạt bụi nước, óng ánh sắc cầu vồng huyền ảo tựa muôn ngàn hạt ngọc chìm đáy sông. An khẽ miết đầu ngón tay vào lớp bột trắng muốt, cảm nhận chất bột mát rượi, dẻo mịn bám chặt lấy da thịt, tỏa ra vẻ đẹp nguyên sơ tinh khôi của biển xa.
— Cụ ơi, bột điệp mịn thế này, quét lên giấy chắc óng ả lắm cụ nhỉ! — An ngước đôi mắt tròn xoe, hồ hởi reo khẽ.
Cụ Nhượng mỉm cười, đôi mắt bách niên nheo lại ấm áp. Cụ đứng dậy, bước vào chái bếp bắc chiếc nồi đồng đang sôi ùng ục ra hiên. Mùi hồ nếp cái hoa vàng quấy chín bốc khói nghi ngút, thơm lừng ngào ngạt tựa mùi xôi mới xua tan cái rét cắt da cắt thịt của gió bấc. Cụ nghiêng muôi dừa, rót từng dòng hồ nếp trong vắt, dẻo quánh như keo vào liễn sành đựng bột điệp, rồi dùng một thanh tre cật khuấy tròn đều tay.Hồ nếp quyện lấy bột điệp biển tạo thành một thứ chất lỏng sền sệt, trắng ngà óng ánh, mịn màng không một gợn cặn. Cụ Nhượng với tay lấy chiếc chổi quét điệp làm bằng những sợi lá thông già phơi khô bó chặt chuôi tre, nâng niu trao vào tay An — Nào chắt An, cầm lấy chổi thông. Giấy dó Nam Cao người ta đã bóc vỏ cây dướng, giã nhuyễn xe sợi phơi sương phẳng phiu nằm chờ trên phản lim kia rồi. Giờ con thay cụ đặt lớp áo lấp lánh cho giấy.
Thằng An đón lấy cán chổi tre, lòng vừa hồi hộp vừa run rẩy. Thằng bé nhúng nhẹ đầu chổi thông vào liễn hồ điệp, áp lên mặt tờ giấy dó mỏng dai trải trên mặt phản lim. Ban đầu, vì quá run và ngón tay chưa quen ghì lực, mũi chổi khựng lại, làm lớp hồ điệp dồn cục, vón thành những vệt sần sùi lồi lõm. An đỏ bừng mặt, rụt rè ngước nhìn cụ cố, đôi môi mím chặt tự trách — Chắt vụng quá cụ ơi... làm hỏng mất một tờ giấy dó của cụ rồi...
Cụ Nhượng khẽ cười hiền từ, ngồi sát lại bên chắt nội. Đôi bàn tay gân guốc, thô ráp ấm áp của cụ khẽ bao bọc lấy bàn tay nhỏ bé của An, nắn lại từng ngón tay đang run rẩy trên cán chổi lá thông già — Đừng gồng ngón tay con ạ. Người thợ quét điệp phải thả lỏng cổ tay, đưa chổi xuôi theo một chiều từ trên xuống dưới, quét dài tay và đều lực như ngọn gió đông lướt qua mặt sóng. Thớ lá thông sẽ rẽ hồ, tạo thành những đường gân mịn màng tăm tắp, đó chính là cái hồn của giấy điệp làng Mái.
Hơi ấm từ bàn tay cụ cố truyền sang sưởi ấm lồng ngực An. Thằng bé nín thở, lắng nghe nhịp thở khoan thai của cụ, nương theo lực dẫn dắt mà đưa chổi. Đầu chổi lá thông lướt đi êm ru trên mặt giấy dó. Lớp hồ điệp dẻo quánh trải đều tăm tắp, để lại những đường vân mảnh như sợi tơ óng ánh. Khi cụ Nhượng buông tay ra, An tự mình quét thêm một đường nữa. Tờ giấy dó trắng ngà bừng sáng lên dưới ánh trăng, lấp lánh rực rỡ như một phiến xà cừ dát mỏng, ngát thơm hương nếp quyện lẫn vị tinh khôi của biển khơi.
Bác Dần đứng bên cạnh, chắp hai tay sau lưng tấm tắc ngợi khen — Khéo lắm cháu An! Nét chổi thông ngọt xớt, đường gân điệp thẳng thớm thế này thì khi dập ván nét lên, mực đen rơm nếp mới cắn chặt vào giấy, không bao giờ phai bạc!
Ba người thợ già trẻ xúm tay làm việc miệt mài dưới trăng. Từng tờ giấy dó Nam Cao sau khi khoác lên mình lớp áo điệp biển óng ả được An cẩn trọng nâng bằng hai tay, đem trải phơi lên những sào nứa giăng ngang dọc khắp khoảng sân rộng. Gió đông hun hút thổi qua bến sông đưa hương cau rụng, làm lay động hàng chục dải giấy điệp trắng muốt phơi sương. Dưới ánh trăng đông vằng vặc tỏa rạng trên đỉnh trời, những dải giấy điệp phấp phới lấp lánh muôn ngàn đốm sáng bạc lộng lẫy, nối tiếp nhau tựa như một dải ngân hà huyền ảo giáng xuống giữa làng quê thanh bình.
Cụ Nhượng cùng bác Dần bước vào gian trong để xem lại độ ẩm của phiến gỗ thị ủ tro rơm nếp, để An nán lại ngoài sân kiểm tra lại các góc kẹp nan tre giữ mép giấy khỏi bay. Thằng bé hít một hơi thật sâu làn sương lạnh ngọt lành, lòng ngập tràn niềm kiêu hãnh khôn tả khi ngắm nhìn thành quả bàn tay mình làm ra.
Bỗng nhiên, một tiếng “rắc” rất khẽ giòn tan vang lên từ góc vườn tối phía sau chuồng lợn bỏ hoang.
An khựng lại, nép mình sát cột sào nứa, đưa mắt nhìn chăm chú về phía bụi chuối rậm rạp. Giữa bóng tối mờ mịt của rặng dâm bụt giáp bờ ao, một bóng đen trùm kín đầu bằng manh áo tơi rách đang lén lút dùng mũi dao rạch toạc những thanh nứa rào thưa. Kẻ lạ mặt nín thở trườn qua khe hở, dáo dác nhìn quanh rồi thoăn thoắt lách mình, nhắm thẳng hướng góc hồi nhà đông – nơi cụ Nhượng đang đặt chiếc vại gốm ủ màu tự nhiên và vại màu chàm nguyên chất.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
