Chương 12: Hương Thị Giữa Đêm Đông
Biền Văn An nín thở, hai mắt tròn xoe dán chặt vào bóng lưng còng của cụ cố dưới ánh đèn dầu lạc chập chờn. Gió bấc rít qua khe liếp nứa gian nhà đông, mang theo hơi buốt giá của sông Đuống khiến đĩa đèn run rẩy lay lắt. Bác Phó Cả Dần vội vơ ôm rơm nếp khô dưới gầm chõng đem ra góc sân nhóm lửa. Ngọn lửa bùng lên đỏ rực, tiếng rơm cháy lách tách xua bớt bóng tối đặc quánh và cái rét thấu xương đang bủa vây ba cụ cháu.
An xoa hai bàn tay quấn vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi vào sát mép lửa, rồi quỳ thụp bên cạnh cụ Nhượng. Cụ cố khẽ gạt chòm râu cước, ngón tay run run lần theo vết rạch xù xì trên đoạn thân thị. Đó là một vết chém sâu hoắm, lưỡi dao nhọn hoắt bằng sắt han rỉ găm ngập vào thân cây, phủ một lớp bùn cát đóng keo tựa hồ đã nằm yên dưới lòng sông qua bao mùa con nước.
— Cụ ơi, có phải người ta cố ý găm dao để phá thớ gỗ không cụ? — An lo lắng hỏi nhỏ.
Cụ Nhượng không đáp vội. Cụ rút chiếc đục nhỏ cài bên thắt lưng, gõ nhẹ vào cán gỗ thị rồi dùng mũi sắt cạy từng mảng rỉ sét và lớp vỏ mục xơ xác quanh vết rạch. Bác Dần cũng sán lại gần, đôi bàn tay thô ráp phồng rộp vì phẩm bẩn khẽ run lên bần bật — Thưa cụ, nhát dao này cắm xiên... liệu có ăn phạm vào lõi ván không cụ?
Sau tiếng tách giòn tan, mũi dao gãy bật khỏi thân cây rơi xuống đất kêu cheng một tiếng. Cụ Nhượng ghé sát ngọn đèn, ngón tay cái miết nhẹ vào khe hở vừa hé lộ. Đột nhiên, một luồng hương thơm the mát, ngai ngái ngọt lành tỏa ra, ngào ngạt và tinh khiết đến mức lấn át cả mùi khói rơm nếp khét nồng.
Dưới lớp vỏ đen đúa xù xì, thớ gỗ thị ngàn năm hiện ra đặc quánh, mịn màng và ươm sắc vàng óng ả hệt như sáp ong rừng được ngâm ủ kỹ lưỡng. Vết rạch chỉ mới chạm tới lớp giác ngoài, còn phần thịt cốt bên trong vẫn nguyên vẹn, dẻo dai khôn cùng.
An reo lên khe khẽ — Gỗ lành rồi! Thớ gỗ vàng ươm đẹp quá cụ ơi!
Gương mặt hằn sâu nếp nhăn bách niên của cụ Nhượng giãn ra, nụ cười hiền từ làm đôi mắt cụ sáng quắc — Trời Phật và tổ nghề thương xóm tranh làng Mái đấy các con ạ. Thớ dẻo như sáp thế này, mũi đục ngô ăn vào sẽ ngọt như cắt bánh khảo, không bao giờ lo nứt toác. Bác Dần này, chú vào buồng vác chiếc cưa tay ngàm sắt với mấy cái nêm tre già ra đây. Đêm nay ta phải xẻ gỗ ngay, để gió bấc thổi táp vào da thịt ướt là hỏng mất.
Bác Dần vâng dạ ríu rít, thoăn thoắt chạy vào nhà bưng đồ nghề ra sân. Dưới sự chỉ bảo tỉ mỉ của cụ Nhượng, bác Dần ngồi ghé mép khúc gỗ thị, An phụ trách bưng đèn và giữ cọc tre định vị. Chiếc cưa tay lưỡi dài cắn vào thân gỗ, nhả ra từng dòng mùn cưa vàng mịn như phấn hoa.
Cụ Nhượng ngồi trên chiếc đòn thấp, vừa quan sát từng đường cưa vừa cất giọng ấm trầm dặn dò — Chắt An nhìn cho kỹ nhé. Ván in mộc bản không được xẻ mỏng như ván thuyền. Mỗi phiến ván nét phải dày đúng hai tấc, vuông vức phẳng phiu. Khi hạ cưa phải nín thở cho lưỡi đi đều tay, không được nghiêng ngả kẻo lệch thớ. Bác Dần, đóng thêm chiếc nêm tre già vào kẽ hở đi chú, gõ nhẹ tay thôi để thớ gỗ tự tách ra theo đường nứt tự nhiên.
Tiếng cưa xoèn xoẹt nhịp nhàng hòa cùng tiếng nêm tre gõ cộc cộc vang đều trong đêm thanh vắng. Bác Dần gạt mồ hôi đang túa ra trên trán dù gió lạnh thấu da thịt, cẩn trọng tách rời từng phiến ván phẳng phiu. Cụ Nhượng bảo An vốc từng nắm tro rơm nếp mịn trong bếp đem ra, rải đều lên khắp bề mặt từng phiến gỗ vừa xẻ.— Gỗ ngâm bùn vừa vớt lên, gặp gió bấc hanh hao rất dễ sinh nứt răm. Phải ủ tro rơm nếp giữ ẩm cho thớ gỗ quen dần với khí trời. Nhớ lấy lời già này, vội vàng một khắc là hỏng công sức trăm năm đấy con.
Nhìn những phiến ván gỗ thị vàng ruộm nằm ngay ngắn dưới lớp tro rơm nếp ấm áp, bác Dần bất giác quỳ thụp xuống sân. Người thợ trung niên đưa đôi bàn tay lở loét, rướm máu vì thứ than bùn độc hại lên v**t v* phiến gỗ mịn màng như nhung lụa. Nước mắt bác trào ra, lăn dài qua gò má sạm đen vì sương gió — Cụ ơi... nhìn thớ gỗ tổ tinh khôi nhường này, con thấy lòng mình nhơ nhuốc quá. Bàn tay con từng nhận mấy xâu tiền nhơ bẩn của thằng lái Lợi, từng quấy thứ than bùn ngâm bột độc làm hại con thơ, bôi bẩn cả danh dự người thợ làng Mái. Con có tội với tiên tổ, có tội với cụ...
Cụ Nhượng đặt bàn tay gân guốc ấm áp lên vai người học trò cũ của con trai mình, giọng cụ nghẹn ngào nhưng bao dung tựa bóng đa đầu làng — Biết đau lòng trước cái nhơ bẩn tức là cái tâm làm nghề của chú vẫn còn trong sáng. Người thợ tranh cốt ở tấm lòng, đường dao chỉ thật sự có hồn khi lòng dạ ngay thẳng. Đứng dậy đi chú, cùng tao và chắt An sửa lại ván tổ, ấy là cách chuộc tội đẹp nhất với xóm làng.
An đứng bên cạnh, nhìn bác Dần gạt nước mắt gật đầu kiên định mà trong lòng dâng lên niềm xúc động rạo rực. Thằng bé bước lại gần bếp lửa, chêm thêm mấy thanh củi tre khô cho ngọn lửa cháy bập bùng sáng rực cả khoảng sân.
Tiếng mõ đ**m canh ngoài bến sông điểm dồn dập báo hiệu đã sang canh ba. Gió bấc càng về khuya càng buốt giá, sương muối phủ trắng xóa trên ngọn rặng tre ngà sau xưởng. Cụ Nhượng bảo bác Dần cùng An nâng phiến ván thị đẹp nhất, thớ mịn nhất đặt ngay ngắn lên chiếc phản gỗ lim giữa gian nhà đông.
Trên chiếc bàn thờ tổ nghề nghi ngút khói trầm, mảnh ván khắc vỡ hình nét mặt em bé ôm gà sót lại sau vụ cháy đình được đặt trang trọng ở chính giữa. Cụ Nhượng mở chiếc tráp gỗ sơn then cũ kỹ, kính cẩn lấy ra bộ dao đục ngô chuôi sừng gia bảo của dòng họ Biền. Những lưỡi đục bằng thép già sắc lẹm, sáng quắc dưới ánh đèn dầu.
Cụ Nhượng trịnh trọng thắp ba nén nhang thơm, dắt tay chắt An cùng bác Dần quỳ xuống trước bàn thờ tổ nghề. Khói hương trầm thoang thoảng quyện với mùi hồ nếp và hương gỗ thị tạo nên một bầu không khí thiêng liêng, ấm áp đến lạ kỳ. Cụ Nhượng chắp tay khấn xin — Cúi xin tiên tổ làng Mái, các bậc tiền nhân trăm năm phù hộ độ trì cho manh ván mới này. Già này cùng chắt nội và phường thợ xin dốc cạn tâm lực, mài sắc mũi đục ngô, giữ trọn thớ gỗ thị và sắc điệp biển thuần khiết để khắc lại bộ tranh “Vinh Hoa Phú Quý” trước rằm tháng Chạp, giữ lấy linh hồn làng tranh cho con cháu muôn đời...
Cụ Nhượng cúi đầu vái ba lạy. Thằng An và bác Dần cũng thành kính dập đầu sát tấm chiếu cói.
Vừa buông tay lạy tổ nghề xong, từ ngoài ngõ xóm bến bỗng vọng lại tiếng chân chạy dồn dập, bì bõm giẫm lên bùn đất ướt. Tiếng th* d*c nghẹn ngào xé toang màn đêm tĩnh mịch, rồi một tiếng khóc nấc thất thanh cất lên ngoài cổng liếp — Thầy ơi! Cứu con với thầy ơi... Con đau rát buốt hết cả ruột gan rồi thầy ơi!
Đó là giọng của bé Mận. Tiếng kêu cứu thất thần, lạc cả giọng của đứa trẻ mười tuổi làm ba cụ cháu giật bắn mình, tim thắt lại giữa đêm đông buốt giá.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
