Chương 11: Ánh Đuốc Bến Lở
Lửa đuốc nứa cháy bùng bùng trong gió bấc, tạt khói khét lẹt cùng những tàn than đỏ rực bay xối xả vào mặt cụ Biền Duy Nhượng. Tiếng bước chân rậm rịch nện lún sỏi đá men triền dốc đê, át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bến lở. Tên trùm đinh khét tiếng hung hãn dưới trướng Quản Lợi dẫn đầu chừng mười mấy gã lực lưỡng, tay lăm lăm gậy gộc bọc sắt, thô bạo dàn hàng ngang khóa chặt con dốc độc đạo dẫn vào cổng xưởng tranh.
— Đứng yên đấy! — Tên trùm đinh quát tháo the thé, chĩa ngọn gậy sắt về phía mép nước. — Khúc gỗ vô chủ này dạt vào bến làng, chiếu theo lệnh cụ Lý và bác lái Quản Lợi, phải giữ lại tịch thu sung công quỹ! Ai dám chống cự, chớ trách gậy đòn không có mắt!
Thằng An giật mình nép sát sau tà áo nâu sồng của cụ cố, đôi bàn tay quấn dải vải thô ứa chút vệt máu đỏ khẽ run lên vì buốt lạnh và kinh hãi. Thế nhưng bàn tay cụ Nhượng đặt khẽ lên vai chắt nội vẫn vững chãi như một phiến đá tảng ngàn cân.
Cụ Nhượng ung dung nhấc cây gậy tre già lên, bước từng bước chậm rãi nhưng đanh thép tiến thẳng về mép mũi bè. Cụ đứng sừng sững chắn ngang giữa khúc gỗ thị vàng ươm và đám người hung tợn. Chòm râu bạc phơ như cước của cụ bay phần phật trong gió rét, đôi mắt bách niên đùng đục bỗng lóe lên tia nhìn quắc thước lạ thường khiến đám tay sai đang hò hét bỗng chùn chân lại một nhịp.
Cụ Nhượng nhìn thẳng vào mặt tên trùm đinh, cất giọng trầm ấm mà vang rền — Anh trùm đinh, anh đem gậy gộc hun đuốc đến đây định cướp giật giữa đêm hôm thanh vắng hay sao? Gỗ này là gốc thị ngàn năm dân làng Mái ta chôn giữ dưới bãi bồi gò Đống Sòi từ thuở vỡ đê Giáp Thìn. Khoán ước đình làng khắc rành rành trên bia đá: thợ cả toàn quyền trục vớt gỗ ngâm chốn hoang bãi để đục ván mộc bản, tạc tượng tế tự cho việc thờ phụng tổ nghề.
Cụ gõ mạnh cán gậy tre đánh “cộc” một tiếng xuống tảng đá mép bến, nghiêm nghị nói tiếp — Ai dám đem lòng tham lam cản trở đồ công tế tự, tức là phạm vào đại tội bất kính với tiền nhân, chiếu theo hương ước làng Mái sẽ bị phạt trượng và đuổi khỏi hương thôn! Anh cậy uy thế ai mà dám đem gậy sắt ra dọa nạt người già con trẻ?
Tên trùm đinh biến sắc mặt, chột dạ lùi lại nửa bước. Nhưng nhớ đến món tiền thưởng Quản Lợi hứa hẹn, gã liền nghiến răng, trừng mắt quát lấp l**m — Lão già lẩm cẩm, đừng có đem bia đá khoán ước cổ ra lòe thiên hạ! Đêm hôm tối tăm, ai rảnh đâu mà phân xử! Chúng bay, xông xuống lôi cái bè gỗ lên cho tao!
Mấy gã tay sai vừa nhấp nhổm định sấn tới thì một bóng người vạm vỡ ướt sũng bất ngờ nhảy bổ lên bờ, chắn ngang trước mặt cụ Nhượng. Bác Phó Cả Dần giương rộng đôi vai hộ pháp, hai bàn tay thợ phồng rộp lở loét nắm chặt lại thành nắm đấm gân guốc, đôi mắt quầng đỏ vằn lên tia giận dữ — Đứa nào dám động đến cụ Cả và khúc gỗ thị của làng, bước qua xác Đỗ Văn Dần này trước đã!
Nhìn thấy người thợ in dập vốn lành như đất bỗng chốc gầm lên như cọp dữ, đám tay sai đồng loạt khựng lại. Tên trùm đinh trố mắt, gằn giọng — Bác Dần? Bác vừa mới nhận tiền kẽm của anh lái Lợi cơ mà? Sao giờ lại hóa điên nhảy xuống bùn đỡ bè cho lão Biền?
Bác Dần nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống cát ẩm, tiếng nói bộc trực sang sảng vang dội cả bến sông — Mấy xâu tiền nhơ bẩn của thằng lái buôn gian lận ấy, tao đã ném trả lại rạp tranh bổi từ chập tối rồi! Thứ phẩm than bùn diêm sinh độc hại của chúng mày làm con gái tao lên cơn ngộ độc, làm lở loét đôi tay thợ của tao, làm nhơ nhuốc cả thanh danh làng tranh ba đời! Từ nay tao dứt khoát rũ bỏ phường tranh rởm. Khúc gỗ thị này là xương máu, là linh hồn của tiên tổ làng Mái, tao liều cái mạng trâu ngựa này quyết bảo vệ đến cùng!
Lời tuyên bố đanh thép của bác Dần như gáo nước lạnh hắt thẳng vào đám tay sai. Bọn chúng lấm lét nhìn nhau, chân ngập ngừng không dám tiến thêm.
Đúng lúc ấy, từ phía ngõ xóm bến bỗng rộ lên những tiếng đập cửa huỳnh huỳnh, tiếng chó sủa ran và ánh lửa bập bùng nối nhau túa ra.— Bớ bà con xóm bến! Có kẻ quấy phá bến sông, định ức h**p cụ Cả Nhượng kìa!
— Cụ Cả vớt được gỗ ván tổ về rồi! Đừng để lũ gian thương làm càn!
Tiếng kêu gọi của các bác thợ quét điệp, tiếng chân chạy rầm rập của những người dân làng Mái mỗi lúc một gần. Hơn hai chục người đàn ông, đàn bà xóm bến tay cầm đòn gánh, chổi đóm, gậy tre lục tục ùa ra bến lở. Những ngọn đuốc rơm cháy sáng rực soi rõ từng khuôn mặt phẫn nộ của bà con chòm xóm. Họ lập tức quây thành vòng cung che chở phía sau lưng cụ Nhượng, bác Dần và thằng An.
Thấy dân làng kéo ra ngày một đông, khí thế áp đảo hoàn toàn, tên trùm đinh mặt mày tái mét. Gã biết rõ nếu để nổ ra một trận ẩu đả kinh động đến các cụ bô lão và hương lý trong làng thì chính bọn chúng sẽ là kẻ đuối lý chịu tội. Gã nghiến răng ken két, trừng mắt nhìn bác Dần và cụ Nhượng rồi vung tay hậm hực — Được lắm... Cứ đợi đấy! Rằm tháng Chạp này không có tranh giao cho lái buôn kinh kỳ thì cả lũ chúng bay chỉ có nước cắn rơm cắn cỏ! Dập đuốc! Rút!
Toán tay sai ấm ức giậm chân, vội vã dụi tắt đuốc nứa vào bụi cỏ lác ven đường rồi lủi thủi rút lui trong bóng đêm mịt mùng.
Gió bấc vẫn hun hút thổi qua mặt sông Đuống, nhưng bầu không khí nơi bến lở bỗng chốc trở nên ấm áp lạ kỳ bởi tiếng thở phào nhẹ nhõm và những lời hỏi han ân cần của bà con chòm xóm.
— Cụ Cả có sao không cụ ơi? Thằng An có bị cảm lạnh không con?
— May quá, cụ Cả với bác Dần giữ được bè gỗ rồi!
Cụ Nhượng nở nụ cười bao dung, chắp tay cúi đầu tạ ơn xóm giềng — Đa tạ bà con xóm bến đã không quản đêm hôm ra che chở cho ba cụ cháu tôi. Ơn này già này xin ghi tạc. Nay thớ gỗ thị đã về tới bờ, tôi chỉ xin bà con chung tay thêm một đoạn đường, giúp đưa gỗ lên sân xưởng tranh trước khi con nước triều dâng ngập bãi.
— Việc chung của làng, cụ cứ để chúng con lo!
Bác Dần cùng mấy thợ trai tráng xóm bến lập tức xắn cao ống quần, luồn những sợi dây thừng bện chắc qua bụng thân gỗ. Hơn chục người đồng thanh cất tiếng hò dô kéo gỗ, tiếng bước chân bì bõm đạp bùn hòa cùng nhịp thở rộn ràng xua tan cái rét căm căm của đêm đông. Khúc gỗ thị ngàn năm nặng trịch, ngấm đẫm phù sa màu mỡ từ từ trườn qua triền dốc đê, tiến thẳng vào khoảng sân gạch rộng rãi trước gian nhà đông của cụ Nhượng.
Khi thân gỗ thị đã nằm yên vị trên những thanh tre ngà kê lót, bà con xóm bến vui vẻ chào cụ rồi lục tục ra về nghỉ ngơi sau một hồi kinh động. Sân xưởng trở lại vẻ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng gió luồn qua rặng tre và ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn dầu lạc đặt nơi bậu cửa.
Thằng An cầm chiếc chổi đóm xua bớt lớp bùn non bám ngoài lớp vỏ cây, xuýt xoa — Cụ ơi, gỗ thị ngậm nước sông nặng quá, nhưng đưa được vào sân nhà mình thế này là yên dạ rồi cụ nhỉ!
Cụ Nhượng không đáp ngay. Cụ chống gậy bước lại gần, quỳ một bên gối xuống nền sân đất nện, đưa bàn tay gân guốc nâng niu miết dọc theo thân gỗ còn vương mùi the mát ngai ngái ngọt lành. Đôi mắt tinh tường của người thợ cả bách niên bỗng khựng lại ở một đoạn vỏ bị xước xát gần phần gốc.
Cụ Nhượng ghé sát ngọn đèn dầu lạc soi rõ hơn. Dưới ánh sáng vàng hoe chập chờn, vạt vỏ đen xù xì không phải bị trầy tróc do va đập vào đá cuội, mà là một vệt rạch sâu hoắm bất thường, mũi dao nhọn hoắt dường như đã cắm ngập sâu vào tận thớ thịt gỗ thị từ bao giờ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
