Chương 10: Bè Gỗ Giữa Dòng Nước Xiết

Mối thừng gai đứt phăng để lại nơi đầu ngón tay Biền Văn An một vệt rát buốt xé thịt. Giữa khoảng tối đen ngòm của sông Đuống, chiếc bè tre chở khúc gỗ thị ngàn năm cứ thế xoay tròn theo dòng xoáy hung tợn, dạt nhanh ra xa bờ cát bồi.

— Cụ ơi! Mất bè gỗ rồi! Ván tổ trôi mất rồi!

Thằng An gào lên lạc cả giọng, nước mắt trào ra giàn giụa hòa vào màn mưa phùn buốt giá. Nó dợm bước lao đầu xuống dòng nước đục ngầu đang cuộn sóng ầm vang. Nhưng chưa kịp chạm chân vào mép nước lở, một bàn tay gân guốc, run rẩy vì lạnh đã túm chặt lấy vạt áo nâu sau lưng nó.

Cụ Nhượng dùng chút tàn lực ghì chặt chắt nội vào ngực mình. Thân hình cụ run lên từng chặp, ngực phập phồng nghẹn ứ nhưng giọng nói vẫn cố nén nỗi đau xé lòng — An! Đứng lại! Nước xoáy sâu lắm, con nhảy xuống là mất mạng đấy con ơi!

— Nhưng đó là khúc gỗ cụ cháu mình đào cả ngày trời mới thấy... Không có gốc thị ấy thì lấy đâu ra ván mà in tranh Tết cho làng hả cụ?

Thằng An giãy giụa, đôi bàn tay quấn băng vải nâu sồng ủ lá nhọ nồi cào vào lớp bùn nhão nhoét. Vết thương rách toạc da thịt ban nãy lại toác miệng, máu rỉ qua thớ vải thô nhức nhối, nhưng nỗi đau thể xác chẳng thấm tháp gì so với nỗi tuyệt vọng nhìn chiếc bè trôi dần vào màn sương đêm mịt mùng. Bốn thân tre ngà đực chỉ còn là một vệt lờ mờ dập dềnh giữa muôn ngọn sóng bạc đầu.

Đúng vào khoảnh khắc chiếc bè sắp chìm khuất sau mũi doi cát, từ trong lùm lau sậy rậm rạp phía cồn hoang bỗng vang lên tiếng rẽ cành răng rắc. Một bóng người vạm vỡ lao vụt ra bờ sông. Chẳng kịp cởi chiếc áo tơi lá rách bươm, người ấy đạp phăng bãi sình lầy, nhảy ùm xuống dòng nước cuộn xiết.

“Tõm!”

Cột nước xám đục bắn tung tóe lên mặt cát. Thằng An nín bặt tiếng khóc, tròn mắt nhìn qua màn mưa.

Dưới lòng sông Đuống lạnh thấu tủy, bóng người ấy ngụp lặn kiên cường giữa những con sóng gầm thét. Đôi bắp tay cuồn cuộn trồi lên ngụp xuống, chém từng nhát bơi sải dứt khoát đuổi theo hướng bè trôi. Cứ mỗi lần ngọn sóng đỏ ngầu chồm lên nuốt chửng bóng lưng, tim An lại thắt lại; rồi khi cái đầu húi cua ướt sũng nhô lên thở hắt ra một ngụm khí đục, An lại bất giác bấu chặt lấy gấu áo cụ cố.

Suốt nửa khắc vật lộn với thủy thần giận dữ, người ấy mới áp sát được sườn bè mộc. Dòng nước xiết chực lật úp mảng tre đè nghiến lấy thân người. Nhưng bằng sự dẻo dai phi thường của người thợ từng bao năm vật lộn bên bến sông, người đó nghiến răng gầm lên một tiếng trầm đục, một tay ôm ghì lấy thân tre ngà đực, tay kia quờ quạng chộp lấy đầu mẩu dây thừng bị đứt.

— Bác ấy... bác ấy túm được bè rồi cụ ơi! — An nghẹn ngào reo lên, mười đầu ngón chân bấm chặt vào cát ẩm.

Người dưới sông ngậm chặt đầu dây thừng gai vào miệng, nghiêng mình đạp nước ngược dòng, từng tấc từng phân lôi chiếc bè nặng ngàn cân chếch dần về phía bến lở. Nơi ấy có một hàng cọc tiêu tre già cắm sâu ngăn sóng. Khi mép bè vừa va đánh “khục” vào thân cọc tiêu, cánh tay hộ pháp kia lập tức vươn lên, quấn ba vòng dây gai quanh chạc cọc rồi siết chặt lại.

Chiếc bè gỗ thị vàng ươm rốt cuộc đã dừng lại, nằm im lìm bên mép bờ bồi.

Người vừa cứu bè lảo đảo trườn lên bãi cát, toàn thân ướt sũng như chuột lột. Gió bấc thổi thốc vào da thịt khiến người ấy run rẩy bần bật, môi thâm sì, ngực th* d*c từng cơn nặng nhọc. Ánh chớp xa xa rạch ngang trời đông soi rõ khuôn mặt vuông chữ điền thô ráp bết đầy bùn đỏ: đó chính là bác Phó Cả Dần.

Bác Dần lảo đảo bước tới trước mặt cụ Nhượng. Đôi bàn tay vốn bị phồng rộp, lở loét vì quấy thứ bột than bùn tẩm lưu huỳnh của Quản Lợi nay ngâm nước sông lạnh buốt trở nên trắng bệch, rỉ máu nơi kẽ móng.“Bộp!”

Bác quỳ sụp hai gối xuống lớp bùn nhão nhoét, dập đầu sát đất trước mặt người thợ cả già nua. Tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực vạm vỡ — Cụ ơi... con có tội! Con quỳ đây xin cụ và hương hồn tiên tổ làng Mái quở phạt!

Cụ Nhượng đứng sững giữa gió mưa, đôi mắt đùng đục ngân ngấn nước. Cụ khẽ nghiêng mình, đưa bàn tay run rẩy chạm vào bờ vai lạnh ngắt của người học trò cũ — Bác Dần... bác mau đứng lên. Nước sông buốt giá thế này, sao bác lại liều mình nhảy xuống dòng xoáy dữ?

Bác Dần ngẩng mặt lên, nước mắt chảy tràn trên gò má sạm đen, giọng run rẩy đứt quãng — Con... con hổ thẹn lắm cụ ơi! Mấy hôm nay cầm mấy xâu tiền kẽm đặt cọc của thằng lái Lợi, con như kẻ mất hồn. Nhìn con Mận lên cơn sốt ho sù sụ vì ngửi khói phẩm than bẩn, nhìn hai bàn tay thợ lở loét tanh tưởi, con mới hiểu ra mình đang rước họa vào làng. Chiều nay con lén đi sau lưng hai cụ cháu ra gò Đống Sòi... thấy cụ tuổi bát tuần cùng cháu An còng lưng bới bùn giữ từng thớ gỗ thị, con đau như có muối xát vào ruột gan!

Thằng An bước lại gần, nhìn bàn tay rướm máu của bác Dần mà khóe mắt cay xè. Nó cất giọng trong trẻo — Bác Dần... ban nãy nếu không có bác thì ván tổ trôi mất hút rồi. Bác cứu được thớ gỗ của làng rồi bác ơi!

Bác Dần nắm lấy vạt áo An, nghẹn ngào — Cháu An ơi, bác có lỗi với hương hồn cha cháu... Bác vì mấy đồng tiền đong gạo mà suýt làm hoen ố ngọn dao khắc của tiên tổ. Cụ ơi, con xin cụ cho con được đem tấm thân trâu ngựa này chuộc tội. Con sẽ cùng cháu An kéo bè gỗ về xưởng, con sẽ thức trắng đêm giã màu, quét điệp, cùng cụ đục lại bộ ván mộc bản cho kịp phiên chợ rằm tháng Chạp!

Cụ Nhượng mỉm cười, nụ cười làm tan đi cái rét căm căm của đêm lập đông. Cụ đỡ bác Dần đứng dậy, giọng ấm áp — Biết quay đầu về nẻo thiện thì cái tâm vẫn sáng như giấy điệp con ạ. Nghề tranh làng ta cốt ở tấm lòng thơm thảo, không phụ người có dạ son đâu. Thôi, mau kéo bè lên bến, kẻo nước triều dâng ngập bờ bãi.

Có thêm sức vóc vạm vỡ của bác Phó Cả Dần, chiếc bè mộc được đẩy ngược con lạch êm đềm một cách nhanh chóng. Ba bóng người một già, một trẻ, một tráng niên kề vai gánh vác niềm hy vọng của làng tranh. Thân gỗ thị ngàn năm vàng óng ả, mịn màng như sáp ong dần trườn lên bờ bến lở cạnh cổng xưởng nhà cụ Nhượng, tỏa ra mùi the mát ngai ngái át cả vị bùn non.

Thằng An quệt mồ hôi trán lẫn nước mưa, lòng trào dâng niềm hân hoan khó tả khi nhìn thấy mái gian nhà đông thân thương hiện ra mờ ảo dưới ánh đèn dầu lạc.

Thế nhưng, niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì bỗng nhiên, từ con đường cái dẫn ra cổng làng Mái, hàng chục đốm lửa đỏ rực đồng loạt bùng lên xé toạc màn đêm. Tiếng chân người rậm rịch nện huỳnh huỵch trên mặt đường đất ướt, kèm theo tiếng quát tháo the thé quen thuộc của bọn tay sai dưới trướng Quản Lợi. Mấy chục bóng người lăm lăm gậy gộc bọc sắt và đuốc nứa cháy ngùn ngụt đang ùa ra, vây kín lối vào làng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.