Chương 24: Khói Lò Bãi Bồi Lại Đỏ
Hơi trà sen ngào ngạt bốc lên, lượn lờ giữa làn khói bếp bảng lảng nơi gian nhà chính xưởng gốm họ Hoa. Dưới ánh lửa bập bùng soi rọi vách đất nện, Trọng Lạc quỳ gối ngay ngắn, hai bàn tay thô ráp dãi dầu sương gió nâng chén trà nóng ngang chân mày, cất giọng rưng rưng tự đáy lòng — Ơn sinh thành của cha Đạt dẫu nặng tựa thái sơn, nhưng ơn dưỡng dục mười năm qua của ông lại sâu tựa biển trời. Nếu đêm bão năm ấy ông không giang tay cưu mang đứa trẻ đói lả bên chiếc đòn gánh gãy, thì con đã sớm vùi xác nơi bến sông Cả lạnh buốt. Nay mối oan khiên mười năm của cha đã rửa sạch, mồ yên mả đẹp đã chu tất, con xin cúi đầu dâng chén trà này tạ ơn ông. Con nguyện trọn đời mang họ Hoa, sớm hôm hầu hạ phụng dưỡng ông đến lúc răng long đầu bạc, quyết đem hết tâm sức giữ gìn bàn xoay và ngọn lửa lò thuần dương tổ truyền!
Nói đoạn, chàng trai dập đầu ba lạy xuống nền đất nện, tiếng chạm trán vang lên trầm đục mà dứt khoát.
Ngồi trên chõng tre nhẵn bóng, cụ Hoa Thiệu Hùng lặng đi trong giây lát. Đôi mắt già nua từng trải qua tám mươi năm dâu bể bỗng nhòa đi sau làn sương lệ ấm nóng. Bàn tay chai sần nứt nẻ in đậm tàn tro của cụ khẽ run run vươn ra, đón lấy chén trà sen rồi cẩn trọng đặt sang mép bàn. Cụ cúi xuống, nâng hai bờ vai rắn rỏi của cháu nuôi đứng dậy, nghẹn ngào bảo — Tốt lắm… Mau đứng lên đi con! Lòng dạ con sáng như trăng rằm, hiếu nghĩa vẹn tròn đôi đường phụ tử dưỡng sinh, lão già này còn mong mỏi gì hơn nữa. Cha con dưới suối vàng ắt mỉm cười thanh thản khi thấy con khôn lớn thành người ngay thẳng, biết trọng nghĩa khinh tài.
Cụ Hùng chậm rãi bước lại góc hương án, mở chiếc tráp gỗ thị đã ngả màu nâu bóng. Từ trong tráp, cụ nâng ra một chiếc búa nhỏ bằng đồng đen dùng để gõ thử độ vang của men cùng một phiến gỗ mun khắc chìm bí quyết pha chế men tro rơm nếp cổ truyền. Đặt chiếc búa gõ vào lòng bàn tay ấm áp của Trọng Lạc, cụ Hùng nhìn thẳng vào mắt chàng trai, dõng dạc nói — Kỹ nghệ gốm thuần dương cốt ở cái tâm trong sạch, không tham lam vụ lợi, không sợ hãi bạo quyền. Nay ta trao lại cho con chiếc búa gõ men và bí quyết bốn đời. Từ nay, con chính là chủ nhân đời thứ năm của bàn xoay họ Hoa. Hãy dùng đôi bàn tay này làm đẹp cho đời, che chở cho những phận người bần hàn nơi bãi bồi ven sông Cả.
Trọng Lạc run run siết chặt chiếc búa đồng, dòng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má ngăm đen cương trực — Dạ, con xin khắc cốt ghi tâm lời ông dạy!
Những ngày sau đó, tiết trời bước sang độ Tiểu hàn hanh hao nhưng lòng người Cổ Lũy lại phơi phới như mở hội. Ác giả ác báo, bè lũ gian tà đã phải đền tội trước pháp luật triều đình. Đặng Khắc Thụ cùng Lý trưởng Đinh Cửu đã bị quan quân đóng gông giải về đại lao Huyện nha chờ ngày thụ hình; dinh cơ, thuyền bè và mỏ lò vôi bị niêm phong tịch thu triệt để.Được Quan Tri huyện chuẩn y và dân làng đồng lòng suy cử, Đỗ Văn Bản chính thức đứng đầu việc an ninh hương thôn. Với cây côn sắt trên tay và tính khí cương trực, Bản lập tức chấn chỉnh lại nếp làng, bãi bỏ mọi khoản thu xâu thuế dịch vô lý, dẹp tan những thói hống hách nhũng nhiễu từng đè nặng lên lưng bà con thợ gốm nghèo.
Trên gò nghĩa trang Mã Vôi, gió đông lồng lộng thổi qua bãi cỏ lau ngút ngàn. Dưới sự trông nom của Đỗ Văn Bản cùng các bậc kỳ lão, dân làng đã dựng một tấm bia đá xanh uy nghiêm ngay đầu lối dẫn lên bãi bồi. Trên mặt đá khắc sâu từng dòng chữ son, ghi rõ toàn bộ khu gò đất thịt pha sỏi trắng này là đất nghĩa trang công ích của làng Cổ Lũy, đời đời kiếp kiếp chỉ để an táng mồ mả người nghèo, cấm tuyệt đối mọi hành vi đào bới đất sét hay xâm phạm mồ mả.
Nằm trên đỉnh gò cao ráo ngập tràn ánh nắng, nấm mộ của anh Trần Khắc Đạt nằm cạnh những hàng mộ thẳng tắp của hai họ Trần, họ Lê. Những chiếc hũ tiểu sành men da chuối thuần dương bền chắc như lũy đá, vững vàng giữ ấm tro cốt tiền nhân dưới lòng đất mẹ, chẳng còn một bóng ma khói xanh hay tiếng rít hờn u uất nào có thể lay chuyển.
Khi cái rét ngọt của đợt gió mùa đông bắc tràn về bến sông Cả, xóm gốm Cổ Lũy bước vào vụ sản xuất lớn nhất trong năm. Từ bến Than cho tới xóm bãi bồi ven sông, không khí làm việc rộn ràng chưa từng thấy. Tiếng đập đất phầm phập dẻo quánh, tiếng bàn xoay kẽo kẹt đêm ngày, tiếng hò dô gánh đất phù sa vang động khắp bờ bãi.
Từ xưởng gốm họ Hoa cho đến hàng chục gian xưởng quanh vùng, những vòm lò bầu rêu phong đồng loạt được dọn dẹp sạch sẽ để nổi lửa. Khói rơm nếp vàng óng quyện với mùi củi mấu và hương đất sét nồng đượm cuộn tròn bay lên tầng không, nhuộm biếc cả một khoảng trời bãi bồi. Lòng người gắn kết keo sơn, lửa lò lại rực đỏ sưởi ấm mọi ngõ ngách thôn xóm sau những ngày dông bão hiểm nguy.
Sáng sớm hôm ấy, ánh mặt trời từ từ nhô lên khỏi rặng tre phía chân trời, dát một dải lụa vàng lấp lánh trên mặt nước mênh mang của dòng sông Cả. Gió sớm mơn man thổi vào gian xưởng mới lợp mái tranh thơm lừng.
Ngồi tựa lưng vào cây cột gỗ lim nhẵn bóng, cụ Hoa Thiệu Hùng thong thả mở nắp chiếc bầu gốm nhỏ bên hông, nhấp một ngụm rượu nếp ủ thơm lừng rồi mỉm cười đôn hậu.
Trước mắt cụ, bên chiếc bàn chuốt gỗ lim đang quay đều tít tắp, Trọng Lạc vạm vỡ trong bộ áo nâu sồng xắn cao tay áo. Đôi bàn tay dính đầy bùn sét của chàng trai thoăn thoắt nâng niu từng đường gân, v**t v* mép hũ tròn trịa, quét đều lớp men da chuối sóng sánh ánh mật ong. Động tác của chàng trai thuần thục, đĩnh đạc và chuẩn xác, toát lên thần thái của một tay thợ gốm bậc thầy.
Cụ Hùng khẽ nghiêng đầu lắng tai nghe. Từ phía sân phơi đầy nắng, những người thợ phụ đang nhẹ nhàng dùng búa đồng gõ thử những chiếc tiểu sành vừa dỡ lò. Từng tiếng vang trong trẻo, ngân nga tựa chuông khánh nhà chùa nối nhau bay vút lên bầu trời cao rộng, hòa cùng tiếng cười nói rộn rã của bà con chài lưới ven sông.
Ngụm rượu nếp trôi qua cổ họng cay nồng rồi ngọt hậu, ấm sực nơi lồng ngực. Cụ Hùng khép hờ đôi mắt, lòng tràn ngập niềm an yên thanh thản khôn cùng. Bão giông đã lùi xa, oan khiên đã tan biến, mạch nguồn phù sa và ngọn lửa lò thuần dương bãi bồi từ nay sẽ mãi mãi trường tồn trong hơi ấm vẹn toàn của đạo lý và tình người.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
