Chương 2: Chiếc Hộp Thiếc Biến Mất

Tấm khăn mặt cuối cùng vắt lên dây phơi trên gác hai cũng là lúc luồng gió oi nồng đầu hè lùa qua chấn song cửa sổ gỗ. Không khí ngột ngạt báo hiệu cơn mưa rào đầu mùa sắp trút xuống mái ngói rêu phong ngõ Hàng Bông. Bà Mai khẽ thở dài, đưa bàn tay xoa bên khớp hông ê ẩm. Suốt từ lúc dọn xong mâm cơm dưới nhà, lồng ngực bà cứ dấy lên nỗi bất an mơ hồ. Ánh mắt hằn học cùng câu nói gạt phăng của ông Điền lúc tối vẫn còn văng vẳng bên tai: “Vẽ chuyện! Cứ giữ khư khư mấy thứ rác rưởi ấy rồi bôi nhọ tôi!”

Sáu mươi lăm năm làm vợ chồng, bà còn lạ gì thói gia trưởng, cố chấp của ông. Khi cơn tự ái bùng lên cay cú, ông sẵn sàng đạp đổ tất cả để giữ lấy cái uy quyền áp đặt của người chủ gia đình. Nghĩ đến chiếc hộp bánh quy thiếc nằm nơi góc tối gầm bàn làm việc của chồng, tim bà Mai lại thắt lại từng cơn.

Bà bước lại gần chiếc giường gỗ lim, ngả lưng xuống manh chiếu cói sờn mép. Chiếc quạt nan trên tay phe phẩy từng nhịp đứt quãng không xua nổi cái nóng hầm hập hắt ra từ bốn bức tường vôi cũ. Giấc ngủ chẳng chịu đến, chỉ có linh tính chẳng lành cứ chốc chốc lại cào xé tâm can.

Không thể nằm yên được nữa, bà Mai chống tay gượng dậy. Cầm chiếc đèn pin nhỏ nơi đầu giường, bà lần bước ra cầu thang. Từng bậc gỗ kêu lên tiếng cót két khe khẽ dưới đôi bàn chân trần của bà lão tám mươi sáu tuổi. Mỗi bước đi, bà đều nín thở, sợ đánh động đến ông Điền đang nằm ngủ say dưới tầng một.

Dưới nhà, mùi nhựa thông ngai ngái cùng hơi khói hàn chì vẫn vương vất trong bóng tối. Tiếng thở nặng nhọc của ông lão tám mươi chín tuổi phát ra đều đều từ mép phản kê sát tường. Bà Mai nép vào vách, bấm công tắc đèn pin rọi thẳng xuống khoảng tối dưới gầm bàn làm việc.

Bà Mai sững sờ. Đôi mắt kèm nhèm mở lớn, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực.

Góc chân tường quen thuộc hoàn toàn trống trơn. Đống bìa cáctông mục nát bà vẫn dặn ông để yên đã biến mất không còn một mẩu. Thay vào đó, chễm chệ choán hết khoảng trống là chiếc thùng cáctông to tướng đựng đầy bóng đèn chân không 6V6 có đui đồng sáng loáng — thứ phế liệu ban chiều ông lặn lội sang tận phố Lò Đúc xin về.

“Chiếc hộp đâu rồi?...” bà Mai thầm thì trong hơi th* d*c, hai đầu gối bủn rủn khuỵu hẳn xuống nền gạch hoa lạnh ngắt.

Bà thò tay quờ quạng khắp gầm bàn bụi bặm. Những ngón tay gầy guộc cào vào khoảng không trống rỗng, chỉ chạm phải mạng nhện và lớp vôi vữa bong tróc rơi lả tả. Chiếc hộp bánh quy tây hình tròn màu đỏ phai, mép dán vòng băng dính giấy ngả vàng — báu vật cả đời của bà — đã biến mất tăm tích.

Nỗi hoảng hốt khiến bà Mai quên cả cơn đau khớp đang nhói buốt nơi thắt lưng. Bà bò dậy, lia đèn pin vào gầm chạn bát sau cánh cửa nách. Không có. Bà lần ra xó bếp cạnh bể nước, lục tung từng góc để rổ rá, sọt rác tre. Cũng không có. Từng ngóc ngách quen thuộc trong nhà đều được soi rọi đến ba bốn lần, nhưng chiếc hộp thiếc vẫn bặt vô âm tín.

Một ý nghĩ kinh hoàng xẹt qua đầu bà Mai. Ánh mắt bà dừng lại nơi chiếc phản gỗ, nhìn bóng lưng gầy guộc của người chồng đang nằm ngủ say sưa. Chiếc bao tải dứa thường ngày treo sau cánh cửa ra vào ngõ giờ đây cũng không thấy đâu nữa.

Chẳng lẽ ông ấy dám đem vứt thật?

Bà Mai đứng chết trân giữa gian phòng tối, hai tay siết chặt chiếc đèn pin đến mức khớp ngón trắng bệch. Nước mắt chực trào ra nhưng nghẹn ứ nơi cổ họng. Bà muốn lao đến lay ông Điền dậy để chất vấn xem lương tâm ông để ở đâu. Nhưng nhìn dáng vẻ ngủ say vô tâm của người đàn ông đã đầu ấp tay gối suốt hơn sáu mươi năm qua, cổ họng bà đắng ngắt. Hỏi để làm gì khi người ta vốn dĩ chưa từng để tâm?

Bà lặng lẽ quay người, ngồi thụp xuống bậc thềm trước cửa ngõ, hai mắt trừng trừng nhìn vào màn đêm mịt mùng. Đêm đầu hè dài tựa thiên thu. Gió ngưng bặt, chỉ còn tiếng côn trùng rền rĩ trong các kẽ tường rêu. Bà ngồi đó, bất động như pho tượng đá, đếm từng phút trôi qua trong nỗi phấp phỏng run rẩy, chỉ mong trời mau sáng để đi tìm lại kỷ vật của đời mình.

Trời tờ mờ sáng. Sương sớm lạnh buốt bắt đầu giăng kín ngõ Hàng Bông.

Bỗng nhiên, từ đầu ngõ vọng lại âm thanh “leng keng… leng keng…” quen thuộc của chiếc chuông sắt buộc trên xe gom rác. Tiếng cọ quẹt của chổi tre hòa cùng tiếng bánh xe cao su nặng nề lăn qua gờ đá.

Bà Mai giật bắn mình. Bỏ cả chiếc đèn pin trên thềm, bà chống tay vào cánh cửa gỗ, lập cập bước ra ngõ. Đôi chân già nua tám mươi sáu tuổi dù run rẩy nhưng vẫn cố bước thoăn thoắt hết mức có thể, bám theo hướng phát ra âm thanh.

Vừa bước ra đến khoảng sân đầu ngõ nối với phố lớn, cảnh tượng trước mắt khiến tim bà Mai như ngừng đập.Chiếc xe gom rác đẩy tay bằng tôn gỉ đang được dốc ngược vào máng nâng của chiếc xe ép rác chuyên dụng màu xanh lục kềnh càng. Tiếng động cơ gầm rú xé toạc không gian tĩnh lặng của buổi sớm mai. Và ngay trên miệng máng ép, chiếc bao tải dứa quen thuộc của nhà bà — bên trong trồi ra góc bìa cáctông và mép tròn màu đỏ của chiếc hộp thiếc — đang từ từ trôi tuột vào lòng thùng xe tối om.

“Khoan đã… Chú ơi, khoan đã!” bà Mai hốt hoảng cất tiếng gọi, giọng khàn đặc, lạc đi vì gió lạnh.

Bà dấn bước chạy tới, một tay vung lên cầu cứu, nhưng đôi chân thoái hóa khớp không cho phép bà bước nhanh hơn. Khi bà chỉ còn cách chiếc xe chừng vài bước chân thì cần gạt thủy lực khổng lồ đã ầm ầm hạ xuống. Tiếng kim loại nghiền nát rác rưởi vang lên rôm rốp rợn người. Chiếc bao tải dứa cùng chiếc hộp thiếc hoen gỉ bị cuốn phăng vào sâu trong khoang chứa rác bẩn thỉu, biến mất hoàn toàn sau lớp cửa thép đóng sập lại.

Người công nhân vệ sinh mặc áo phản quang vàng nghe tiếng kêu vội quay đầu lại, ngạc nhiên nhìn bà lão tóc bạc phơ đang thở không ra hơi “Bà ơi, có chuyện gì thế bà? Bà vứt nhầm cái gì à?”

“Cái… cái bao tải… có chiếc hộp sắt tròn màu đỏ…” bà Mai vịn chặt vào thành xe gom rác bằng tôn, ngực phập phồng nghẹn ngào, “Kỷ vật cả đời tôi trong ấy… Chú cho tôi xin lại với…”

Người công nhân ái ngại lắc đầu, xua tay thở dài “Khổ quá, rác đã ép vào thùng xe kín rồi thì chịu chết bà ạ! Xe này gom chuyến cuối ca đêm, giờ là chạy thẳng một mạch lên bãi rác Nam Sơn trên Sóc Sơn để chôn lấp ngay đấy. Hàng chục tấn rác nén chặt thế kia, máy móc nó nghiền nát bấy rồi, đến tiên cũng chẳng bới ra được đâu bà ơi.”

Từng lời nói của người công nhân như những nhát búa giáng thẳng vào tâm can bà Mai. Bãi rác Nam Sơn… Hàng chục tấn rác… Nghiền nát bấy…

Bà buông thõng hai tay, đứng chết lặng giữa lòng đường phố cổ mờ hơi sương.

Chiếc hộp thiếc ấy… Trong ấy có gì?

Có những lá thư tình thời chiến viết bằng mực tím Cửu Long trên giấy pơluya mỏng manh mà ông Điền gửi về từ nơi sơ tán. Từng nét chữ rắn rỏi, vụng về nhưng chan chứa lời thề non hẹn biển. Có cuống vé xem phim năm một nghìn chín trăm năm mươi chín ở rạp Tháng Tám — buổi hẹn hò đầu tiên hai người cùng chia nhau nắm ngô bung nóng hổi giữa gió đông Hà Nội. Và còn có cả chiếc kẹp tóc bằng nhôm đính hạt cườm xanh — món quà cưới duy nhất ông trao cho bà trong ngày nên duyên vợ chồng nghèo khó.

Sáu mươi lăm năm qua, bà đã gói ghém cả tuổi thanh xuân, chắt chiu từng mảnh vụn ký ức và nhẫn nhịn chịu đựng mọi nỗi cơ cực, thói gia trưởng cộc cằn của chồng để vun vén cho mái ấm này. Bà từng nghĩ, dẫu ông có khô khan, có độc đoán đến đâu thì sâu thẳm trong lòng, ông vẫn trân trọng những tháng ngày gian lao hai người từng đồng cam cộng khổ.

Thế nhưng, hóa ra tất cả chỉ là ảo tưởng của riêng một mình bà.

Đối với ông Điền, sáu mươi lăm năm thanh xuân nhẫn nhịn của bà, những kỷ niệm thiêng liêng nhất của một kiếp người, cũng chỉ là mớ rác rưởi chiếm chỗ, không đáng giá một hào. Ông đã nhét nó vào bao tải rác, tiện tay ném bỏ ra đầu ngõ mà chẳng thèm đắn đo dù chỉ một giây.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má nhăn nheo, rơi xuống mặt đường gạch lạnh ngắt. Nhưng bà không khóc thành tiếng. Nỗi đau khi chạm đáy bỗng hóa thành một sự câm lặng tê tái.

Tiếng còi xe rác vang lên khô khốc. Chiếc xe chở rác chuyên dụng rồ ga, phun ra một làn khói mờ rồi từ từ chuyển bánh.

Dõi theo bóng chiếc xe rác khuất dần nơi đầu ngõ Hàng Bông, bà Mai siết chặt vạt áo nâu bạc màu, một quyết tâm lạnh lùng và dứt khoát nhen nhóm trong ánh mắt cả đời chỉ biết cam chịu.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.