Chương 4: Ngôi Trường Bên Thị Xã

Chiếc xe đò khục khặc rùng mình rồi táp vào bến xe thị xã Hà Tĩnh. Tiếng còi hơi xé toạc buổi trưa oi nồng. Khói dầu mazút quẩn quanh gầm xe, hòa lẫn với tiếng rao bánh dạo và tiếng gọi nhau í ới của cánh bốc dỡ. Nguyệt vịn thành ghế gỗ, day nhẹ hai bên thái dương căng buốt vì say xe rồi mới cúi xuống nhấc chiếc vali mây dưới chân.

Bước xuống nền đất nện lạo xạo sỏi đá, Nguyệt hít một hơi dài để xua cảm giác nôn nao. Lẽ ra cô phải đón ngay chuyến xe ngược lên Can Lộc cho kịp trước khi chiều muộn. Nhưng nhìn con đường rải nhựa cũ dẫn sâu vào trung tâm thị xã, đôi chân cô bỗng dưng chậm lại.

Nguyệt xốc lại quai xách chiếc vali, rẽ bước. Cô chưa muốn về làng Trại Hạ ngay lúc này. Trước khi đối diện với ánh mắt xót xa của mẹ và sự lặng lẽ của bố, cô cần một khoảng dừng để lòng mình lắng lại. Đôi guốc mộc gõ lóc cóc trên vỉa hè đầy lá xà cừ khô, đưa cô về ngôi trường cấp hai ven thị xã — nơi cô từng nhận lớp học đầu tiên vào mùa đông năm 1966, ít tuần sau ngày cưới.

Con ngõ dẫn vào trường giờ đã khác. Hàng rào tre trổ hoa dại ngày xưa nay thay bằng tường gạch quét vôi trắng lem nhem rêu mốc. Cổng sắt hoen gỉ mở hé. Đứng nhìn vào, Nguyệt ngỡ ngàng thấy dãy lớp lợp tranh nứa thời chiến tranh đã biến mất, thay bằng dãy nhà một tầng lợp ngói đỏ tươi hình chữ U nép dưới bóng xà cừ rợp mát.

Bỗng một hồi trống vang lên: Tùng! Tùng! Tùng!

Tiếng trống dứt, đám học trò áo trắng, quàng khăn đỏ túa ra sân như đàn chim vỡ tổ. Tiếng cười đùa ríu rít, tiếng đuổi bắt thình thịch làm xao động cả khoảng sân rợp nắng. Đứng bên gốc bàng non, Nguyệt lặng ngắm bầy trẻ nhảy dây, đá cầu. Cuộc sống ngoài kia vẫn cuộn chảy hối hả, học trò lớn lên rồi rời đi, chỉ có cuộc hôn nhân của cô ở khu tập thể Vinh là đóng băng suốt hai mươi ba năm ròng.

“Kìa... cô Nguyệt phải không?”

Một giọng nói quen thuộc vang lên. Nguyệt quay lại, thấy người phụ nữ mặc áo sơ mi hoa nhí màu cỏ úa bước ra khỏi hành lang, tay ôm xấp vở học sinh bọc giấy báo cũ. Mái tóc đã nhiều sợi bạc vấn lỏng sau gáy, khóe mắt hằn sâu nếp nhăn thời gian.

“Chị Hương!” Nguyệt khẽ gọi, nét mặt dịu lại.

Bà Hương hấp tấp bước tới, đặt xấp vở lên chiếc ghế băng ngoài hiên rồi nắm chặt hai vai Nguyệt, mắt mở to kinh ngạc “Đúng là Nguyệt rồi! Cô về tự bao giờ thế này? Sao không nhắn trước để chị đón?”

“Em vừa xuống xe đò ở bến,” Nguyệt mỉm cười. “Thấy trường sửa khang trang quá nên em ghé vào nhìn một chút.”

“Tiện đường gì mà xách cả vali mây thế kia!” Bà Hương cười xòa, kéo Nguyệt ngồi xuống mép ghế. Bà lấy chiếc ấm tích trong giỏ ủ rơm, rót ra bát sành thứ nước chè xanh bốc khói mỏng. “Uống miếng nước chè cho ấm giọng đã. Chè đồi Hương Sơn om kỹ, chát ngọt đậm đà, uống vào tan ngay mùi bụi đường.”Nguyệt đón lấy bát sành, hơi nóng phả vào lòng bàn tay xua đi cái buốt lạnh vô hình đeo bám từ sáng sớm. Nhấp một ngụm, vị chát đượm trên đầu lưỡi rồi ngọt dần nơi cổ họng. Ngồi bên hiên lớp học, hai người đàn bà bồi hồi nhắc lại những ngày gian khó. Mùa đông năm 1966, khi máy bay gầm rú trên bầu trời Hà Tĩnh, họ từng cùng nhau bế học trò chạy xuống giao thông hào tránh bom, chia nhau từng củ sắn luộc lót dạ, chụm đầu bên ngọn đèn dầu hạt đỗ muội đen kịt để chấm bài trong đêm rét.

“Thấm thoắt hơn hai chục năm rồi,” bà Hương thở dài, nhìn ra sân nơi lũ trẻ đang reo hò bắn bi. “Hồi ấy gian khổ mà ấm áp. Giờ Đổi Mới rồi, người ta đua nhau chạy chợ buôn hàng chuyến, trường lớp đẹp hơn nhưng lòng người cũng bận bịu lo toan. Nhà chị dạo này cũng lủng củng, ông nhà chị xuất ngũ về hưu khó tính khó nết, đụng tí là càu nhàu gắt gỏng. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, vợ chồng già xích mích rồi lại thôi, tối đến có người pha ấm trà ngồi cãi cọ vài câu còn hơn thui thủi một mình.”

Từng lời mộc mạc của bà Hương khẽ chạm vào vết thương sâu kín trong lòng Nguyệt. Người ta cãi nhau, người ta va chạm, nhưng người ta chạm được vào nhau. Còn ở ngôi nhà của cô, hai mươi ba năm qua không hề có tiếng cãi vã. Không có chén bát vỡ, không có lời to tiếng. Chỉ có sự lặng thinh đằng đẵng. Gia Hòa ngồi bên mâm cơm mà hồn gửi trọn vào những cuộn phim và lăng kính máy ảnh, say sưa đếm từng vệt sáng, góc tối. Cô ốm sốt nằm thiếp đi, anh lặng lẽ đặt bát cơm nguội ngắt lên bàn rồi lại chui tọt vào buồng tối tòa soạn. Sự điềm đạm mà đồng nghiệp ở trường Cửa Nam bấy lâu khen ngợi, thực chất chỉ là chiếc vỏ bọc kín kẽ che giấu nỗi cô độc của một người vợ vô hình.

Nguyệt cúi nhìn bàn tay mình. Những ngón tay vương vết bụi phấn trắng ở kẽ móng — dấu vết một đời dạy học. Suốt bao năm, cô đứng trên bục giảng dạy cho hàng trăm đứa trẻ biết yêu thương, chia nhau mẩu bút chì, củ khoai nướng. Nhưng về mái ấm của mình, cô lại không thể dạy nổi cho người đàn ông đầu gối tay ấp cách cất tiếng hỏi xem hôm nay vợ có mệt hay không.

Hồi trống báo hết giờ chơi lại giòn giã vang lên. Lũ trẻ ùa vào lớp, tiếng đọc bài đồng thanh trầm bổng vọng qua khung cửa sổ: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc / Nước gương trong soi tóc những hàng tre...”

Nguyệt đặt bát nước chè cạn xuống khay nhôm hoen ố, đứng dậy vuốt tà áo “Thôi, chị vào lớp kẻo trễ giờ của các cháu. Em phải ra đón xe về Can Lộc, kẻo chiều muộn lại lỡ chuyến.”

Bà Hương vội ôm xấp vở, tiễn Nguyệt ra cổng trường. Gió lay những cành xà cừ râm ran tiếng chim non đầu mùa. Ra đến bậu cổng, bà Hương nắm lấy bàn tay vương bụi phấn của Nguyệt. Ánh mắt người bạn già bỗng chùng xuống đầy ân cần và ái ngại khi nhìn chiếc vali mây đan cũ kỹ đặt bên chân cô “Thế anh Hòa đâu, sao không cùng đi với cô?”

Câu hỏi rơi vào khoảng không tĩnh lặng. Nguyệt khựng lại, toàn thân cứng đờ. Hai mươi ba năm qua, hễ ai hỏi đến Gia Hòa, cô đều có sẵn câu trả lời chu đáo: “Nhà em đi thực địa dưới nông trường”, “Anh ấy bận làm ảnh triển lãm”, “Anh ấy trực ban tòa soạn”. Nhưng lúc này, nhìn ánh mắt chân thành của người đồng nghiệp cũ, mọi lời dối lòng đều nghẹn ứ nơi cổ họng.

Nguyệt đứng yên dưới bóng râm xà cừ, nghe rõ nhịp đập thổn thức trong lồng ngực. Cô cúi nhìn chiếc vali mây dưới chân, lần đầu tiên do dự rất lâu trước khi ngẩng lên, mấp máy môi đáp rành rọt một tiếng “Không.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.