Chương 22: Nhịp Chổi Ngàn Năm

Lê Thảo Lam hít một hơi thật sâu, cảm nhận bầu không khí trong vòm Hang Cóc Cổ đã hoàn toàn đổi khác. Mùi xăng khét lẹt và thứ hương trầm nhân tạo nồng nặc của phường trộm cắp đã bị ngọn gió núi ban mai quét sạch. Vạt nắng sớm từ vòm cửa hang rọi chéo qua phiến đá xanh, phủ lên râu tóc bạc phơ của cụ Trì Thuần Nhân một vầng hào quang ấm áp, xua tan mọi u uẩn lạnh lẽo của đêm giông bão vừa qua.

Ở lối ra vào, Đại úy Trần Tuấn cùng tổ công tác đang khẩn trương lập biên bản niêm phong các thiết bị cơ giới của Đặng Bá Khoát để chuyển về trụ sở. Thấy Lam quay sang nhìn, anh mỉm cười gật đầu khích lệ “Hiện trường an toàn tuyệt đối rồi. Các đồng chí cứ yên tâm làm công tác chuyên môn, bên ngoài đã có anh em công an túc trực.”

“Em cảm ơn anh Tuấn!” Lam đáp lời, lòng trào dâng niềm cảm phục trước sự quả cảm của người chiến sĩ công an xã.

Ngay khi bóng các chiến sĩ khuất sau vách đá, sinh viên Huy liền hăng hái xách hai xô vữa dẻo quánh bước vào. Chàng trai trẻ mồ hôi nhễ nhại nhưng ánh mắt rạng rỡ niềm vui “Chị Lam, anh Minh ơi! Em đã trộn xong vữa vôi theo đúng công thức cụ Nhân dặn rồi đây!”

TS. Hoàng Minh gật đầu, vỗ nhẹ vai Huy rồi cùng Lam tiến về phía ngách hang sau lưng tượng rùa đá. Nơi đó, lỗ khoan cơ học đường kính ba phân đâm xuyên bốn mét sâu từ sườn núi vào vòm hang vẫn còn trơ ra những rãnh xoắn kim loại nham nhở. Lam cúi người soi đèn pin dã chiến để anh Minh dùng bay thép tỉ mỉ lèn từng lớp vữa vôi truyền thống trộn bột đá vôi tương thích và tro thảo mộc vào sâu bên trong. Hỗn hợp vữa kết dính dẻo quánh, từng lớp bột đá được nén chặt, lấp đầy từng centimet khoảng trống nhân tạo.

Khi nhát bay cuối cùng miết phẳng miệng hang, Lam nín thở lắng nghe. Khoảng không gian từng phát ra luồng gió hút hun hút cùng tiếng thở phì phò rợn óc suốt bao ngày qua bỗng chốc im bặt. Hang Cóc Cổ tìm lại sự tĩnh lặng trang nghiêm vốn có của một thung lũng đá vôi ngàn năm tuổi. Anh Minh buông bay, đưa tay quệt mồ hôi trên trán rồi thở phào nhẹ nhõm “Thế là triệt tiêu vĩnh viễn luồng khí cộng hưởng rồi. Giờ thì trả lại sự thanh tịnh cho tiền nhân.”

Lam quay trở lại khoảng vòm trung tâm. Cụ Trì Thuần Nhân đã ngồi xếp bằng ngay ngắn bên cạnh phiến thạch bi cao ba thước năm tấc. Trước mặt cụ là âu nước tro củi bưởi pha bồ kết gạn ba lần đang bốc hơi nước mỏng manh, tỏa ra mùi hương thảo mộc thanh tao dịu nhẹ. Cụ ngước nhìn Lam, ánh mắt đôn hậu ngập tràn sự tin cậy “Bảo vật đã thoát khỏi tay phường gian xảo, giờ là lúc đánh thức thớ đá, cháu gái. Hãy rửa sạch bụi trần cho tấm bia.”

“Dạ, thưa thầy.”

Lam khẽ khàng quỳ gối trên phiến đá phẳng. Cô nhấc dải khăn vải màn mềm mại nhúng vào âu nước tro ấm, vắt bớt nước rồi cẩn trọng áp l*n đ*nh trán bia. Làn nước tro ấm áp trượt nhẹ qua từng rãnh khắc cổ kính, sủi bọt li ti khi tiếp xúc với những vệt bột nấm độc chu sa thạch nhĩ còn sót lại. Bằng những cử chỉ nắn nót, Lam lau sạch từng ngóc ngách hoa văn viền mây lửa đặc trưng của thế kỷ thứ mười. Nước tro ấm không chỉ gột rửa độc tố mà còn như một liều thuốc thần diệu, xoa dịu và dưỡng ẩm cho lớp đá vôi xanh sau những cơn chấn động kinh hoàng mà bọn trộm gây ra. Mặt đá dần hiện lên vẻ bóng mịn, trầm mặc như vừa thức giấc sau giấc ngủ ngàn năm.

Hoàn tất công đoạn lau rửa, Lam mở bọc vải điều, lắng lại nhịp thở rồi lấy ra những tờ giấy dó đại bản được cụ Nhân cất công mang từ làng Phong Khê quê ngoại cô về. Từng tờ giấy phẳng phiu, óng ánh sắc vỏ cây dướng tự nhiên. Cô nhẹ nhàng thả tờ giấy vào chậu nước tro ấm pha loãng, đợi cho từng thớ xơ thực vật ngậm đủ độ ẩm cần thiết rồi cẩn thận nhấc lên, ép kiệt phần nước thừa qua tấm vải lót chuyên dụng.Đôi bàn tay Lam khẽ run lên trong thoáng chốc. Trước mắt cô không chỉ là một hiện vật khảo cổ học, mà là mồ hôi, tâm huyết và linh hồn của các bậc tiền nhân gửi gắm qua cả ngàn năm lịch sử. Cụ Nhân khẽ đặt bàn tay xương xẩu ấm áp lên mu bàn tay cô, giọng nói trầm ấm như tiếp thêm ngọn lửa “Đừng để lòng mình vướng bận âu lo. Tờ giấy dó này mang theo cả hồn quê đất nước, nó dai bền hơn cháu tưởng nhiều. Đặt lên đi cháu.”

Lam hít sâu một hơi, lấy lại sự điềm tĩnh lạ kỳ. Cô nâng tấm giấy dó đại bản ẩm mềm, tỉ mỉ áp phẳng phiu lên phiến thạch bi trên lưng rùa đá. Bằng miếng dạ mềm trong lòng bàn tay, cô miết đều từ tâm bia lan dần ra bốn góc, động tác dứt khoát mà mềm mại, kiên nhẫn đuổi sạch từng bọt khí li ti. Tờ giấy dó ngoan ngoãn bám chặt lấy mặt đá xanh, mịn màng như một lớp da thứ hai bao bọc trọn vẹn từng đường nét gồ ghề của phiến bia.

Lúc này, cụ Nhân trang trọng trao chiếc chổi nỉ cán mun bọc da hoẵng cùng chiếc vồ gỗ gia truyền vào tay Lam. Cụ dặn dò “Giữ tâm thật phẳng, nhịp chổi phải đi theo nhịp thở. Không được vội vã, cũng không được buông lơi.”

Lam đón lấy bộ đồ nghề gia truyền, cảm nhận rõ rệt sức nặng của truyền thống và niềm tin trao gửi. Cô khép hờ mi mắt, lắng nghe nhịp tim mình hòa cùng sự tĩnh lặng của lòng hang rồi bắt đầu gõ.

Cộp... cộp... cộp...

Từng nhát vồ gỗ nện êm ái lên cán chổi nỉ, truyền lực qua lớp da hoẵng mềm mại giáng xuống mặt giấy. Lam điều hòa hơi thở đều đặn, vung tay nhịp nhàng như đang gảy một khúc nhạc không lời. Dưới từng cú chạm chuẩn xác, thớ giấy dó ẩm lún sâu xuống từng khe rãnh, ôm khít lấy từng nét chạm khắc chữ Hán cổ thể chân phương mà không hề rách hay xơ xước dù chỉ một sợi tơ.

Đứng bên cạnh, TS. Hoàng Minh nín thở dõi theo từng động tác của cô học trò, đôi mắt sau cặp kính cận ánh lên vẻ thán phục khôn cùng. Lam nhận ra vị tiến sĩ trẻ từng chỉ đặt trọn niềm tin vào máy quét laser cùng các thuật toán dựng hình ba chiều giờ đây cũng lặng người trước vẻ đẹp của nghệ thuật thủ công truyền thống. Không một cỗ máy tinh vi nào có thể cảm nhận được độ đàn hồi của đá và độ co giãn của giấy như bàn tay con người thấm đẫm tình yêu di sản.

Trên phiến đá bên cạnh, cụ Nhân bắt đầu mài thỏi mực tàu hảo hạng trên chiếc nghiên đá hoa cúc cổ kính. Tiếng mài mực rỉ rả, đều đặn vang lên trong không gian tĩnh mịch. Mùi khói thông hòa cùng hương trầm dịu ngọt từ thỏi mực thượng hạng bắt đầu lan tỏa, sưởi ấm cả vòm hang đá lạnh lẽo. Khi lớp mực đen sánh đạt đến độ quánh hoàn hảo, cụ Nhân nhấc chiếc đệm bông bọc lụa mềm chấm nhẹ vào nghiên mực, rồi trao cho Lam.

“Mực đã bén duyên cùng đá rồi đấy. Dặm thật khẽ, cốt lấy cái thần của nét chữ.” Cụ mỉm cười nói.

Lam đón lấy chiếc đệm bông, khẽ chạm nhẹ lên mép giấy thừa để kiểm tra độ loang. Nét mực khô ráo, đen nhánh và mịn màng như nhung. Cô bắt đầu hạ đệm bông xuống mặt bia, dặm từng nhịp chấm li ti, uyển chuyển như cánh bướm vờn trên đá. Nơi nào đệm bông lướt qua, phần đá nổi lập tức khoác lên mình màu đen tuyền huyền ảo, trong khi các rãnh chữ khắc chìm lún sâu vẫn giữ nguyên màu trắng tinh khôi của giấy dó Phong Khê. Sự tương phản đen trắng diệu kỳ dần đánh thức những con chữ đã ngủ vùi qua mười thế kỷ.

Bụi thời gian và màn sương mù u tối dường như đang tan biến theo từng chấm mực của Lam. Khi lớp mực đen nhánh vừa phủ kín phần trán bia chạm nổi hoa văn mây lửa, hai chữ lớn “Thái Bình” cùng dòng niên hiệu cổ xưa dần hiện rõ mồn một dưới ánh đèn bão, mở toang cánh cửa giải mã bí mật ngàn năm của tiền nhân.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.