Chương 24: Tiếng Đục Hồi Sinh

Luân siết chặt bờ vai gầy của Huy trong lồng ngực, cảm nhận rõ từng nhịp thở ấm nóng và tiếng tim đập bình thản của em trai. Gió đông thổi qua doi đất ven đầm Cầu Hai không còn buốt giá ghê người như những ngày bão lụt vừa qua. Tám năm dằn vặt kể từ tai nạn máy cưa nghiệt ngã, tám năm tự khoác lên mình chiếc áo tội lỗi vô hình, khoảnh khắc này bỗng nhẹ bẫng như làn khói mỏng vừa tan biến vào hư không. Anh khẽ buông tay, đưa ngón tay chai sần gạt giọt nước mắt còn vương trên khóe mi em. Dưới ánh nắng hanh rọi nghiêng qua mái ngói liệt, bốn mươi tám cột gỗ mun và kiền kiền của ngôi nhà rường ba gian hai chái đứng sừng sững, uy nghi như một chứng nhân vừa rũ sạch lớp bụi mờ u uất trăm năm.

Hơn hai tháng sau biến cố kinh hoàng, Ý Thảo Cổ Viên hoàn tất trùng tu dưới bàn tay của những người thợ mộc chân chính. Không còn nỗi âu lo về tà thuật hay tiếng đinh đồng rợn gáy lúc nửa đêm, công việc diễn ra trong nhịp điệu cần mẫn, trang nghiêm. Luân cùng Huy tỉ mỉ chỉnh trang từng mối mộng én, mộng nêm, quét dầu trẩu bảo quản từng thớ gỗ kiền kiền trước hơi ẩm mặn mòi của đầm phá. Những viên ngói liệt rêu phong bị giông gió đánh vỡ được thay bằng ngói nung thủ công từ lò Phước Tích; chân tảng đá chạm hoa sen nâng đỡ cột cái gian giữa đã được gia cố vững chãi, khóa cứng then đá tự hủy bên dưới lòng đất.

Vào một buổi sáng đầu xuân trời quang mây tạnh, chính quyền địa phương long trọng trao quyết định công nhận Ý Thảo Cổ Viên là Nhà lưu niệm văn hóa kiến trúc dân gian ven đầm Cầu Hai. Ngôi nhà rường cổ kính chính thức trở thành di sản chung của cộng đồng. Đứng giữa gian chính thoang thoảng hương gỗ mới quyện cùng gió đầm lộng thổi, Luân ngước nhìn vòm nóc rường cao gần năm mét. Tiếng ngói liệt khẽ xào xạc hòa cùng tiếng sóng vỗ êm đềm bên bãi sậy, thanh bình và thuần khiết. Chín vị trí từng bị đinh đồng cắm ngập nay chỉ còn lại những mắt gỗ tròn nhẵn bóng, như lời nhắc nhở muôn đời về ranh giới mong manh giữa thiên lương và d*c v*ng.

Rời buổi lễ, hai anh em Luân và Huy thong thả xuống thuyền sang ngã ba đò tìm về quán nước quen thuộc. Gió xuân hây hẩy thổi trên mặt đầm Cầu Hai phẳng lặng như gương. Dưới bóng cây đa cổ thụ, quán nước chè xanh của mệ Nhã vẫn mộc mạc nép mình bên bến nước. Luân bước lên bờ, cẩn thận đặt gói chè thơm bọc lá chuối cùng phong bánh đậu xanh trái cây xứ Huế lên chiếc chõng tre mòn nhẵn góc.

“Mệ Nhã, tụi cháu lại sang thăm mệ đây,” Luân cất tiếng chào ấm áp.

Bà lão bảy mươi lăm tuổi dừng tay têm trầu, ngẩng gương mặt nhăn nheo với đôi mắt mù lòa hướng về phía hai anh em. Đôi tai tinh tường lập tức nhận ra bước chân quen thuộc “Thầy Luân... chú Huy đó phải không? Ngồi xuống đây, uống ngụm nước chè đầu xuân cho ấm bụng.”

Luân ngồi xuống bên cạnh bà lão, từ tốn kể lại chuyện chín chiếc đinh Cửu Đinh Trấn Hồn đã bàn giao cho bảo tàng; chuyện cỗ áo quan đá xanh cùng di hài nàng Mai Cúc Lan đã được yên nghỉ trên đồi cát rợp bóng phi lao; và cả chuyện ngôi nhà rường cổ kính nay đã trở thành nhà lưu niệm văn hóa.

Lắng nghe từng lời, mệ Nhã run run đôi bàn tay gầy gò, khóe mắt mờ đục ươn ướt lệ mừng. Miệng nhai trầu đỏ thắm, bà lão nở nụ cười hiền hậu, thở dài nhẹ nhõm “Tốt rồi... Rứa là trọn vẹn rồi các con ơi. Mấy đời người vạn chài bên đầm Cầu Hai chịu nỗi ám ảnh oan khiên, nay hương hồn con bé Cúc Lan đã được mỉm cười nơi chín suối. Cụ tổ nhà họ Phùng dưới suối vàng cũng an lòng vì có được những đứa cháu giữ trọn thiên lương như tụi con.”

Trở lại bờ đầm, Luân gặp chú Cường và Thanh tại hàng hiên Ý Thảo Cổ Viên để thanh toán thù lao. Nhờ khoản kinh phí hỗ trợ từ ban quản lý di sản, Luân trích ra phần tiền công hậu hĩnh, xứng đáng với những hiểm nguy mà hai người thợ bạn đã đồng cam cộng khổ.

Anh trao tận tay chú Cường chiếc phong bì dày dặn “Chú Cường, đây là phần công xá của chú. Cháu tính thêm cả phần bồi dưỡng nguy hiểm hôm trước. Cảm ơn chú đã luôn kề vai sát cánh che chắn cho anh em cháu.”

Người thợ mộc bốn mươi tám tuổi đón lấy phong bì, bàn tay thô ráp run run. Nhìn số tiền đủ để trang trải học phí cả năm cho đàn con, ông ngẩng lên nhìn Luân, mắt đỏ hoe sau làn khói thuốc cẩm lệ:“Thầy Luân nói chi lạ rứa! Tui đi làm thợ mấy chục năm nay, chưa từng thấy ai trọng nghĩa tình như thầy. Có số tiền ni, mấy đứa nhỏ nhà tui yên tâm ăn học đàng hoàng rồi. Ơn này của thầy, tui ghi tạc trong lòng.”

Khi Luân quay sang đưa phong bì cho Thanh, chàng thanh niên hai mươi tư tuổi bất ngờ lùi lại rồi quỳ một gối xuống nền gạch Bát Tràng, hai tay chắp trước ngực “Anh Luân... Tiền công em nhận đủ rồi, nhưng em có một tâm nguyện xin anh tác thành. Suốt thời gian qua, nhìn cách anh dùng từng đường đục, từng mối mộng để cứu người và gìn giữ nếp nhà xưa, em mới hiểu nghề mộc chân chính cao quý dường nào. Em xin được chính thức bái anh làm sư phụ! Em muốn theo anh học nghề phục dựng di sản, dù gian nan cỡ nào em cũng không nản chí!”

Luân sững sờ rồi bật cười ấm áp, bước tới đỡ Thanh dậy “Đứng lên đi Thanh. Nghề mộc này không chuộng lễ nghi rườm rà, chỉ chuộng cái tâm trong sáng và đôi tay chịu khó. Chú mày đã cùng anh em tôi vào sinh ra tử, thì từ nay cứ việc về xưởng cùng làm với tụi tôi!”

Thanh mừng rỡ reo lên, ôm chầm lấy chú Cường trong tiếng cười rộn rã khắp hàng hiên.

Sau Tết Nguyên Đán, khi những vạt nắng xuân ấm áp nhuộm vàng đôi bờ sông Hương và đầm Cầu Hai rực rỡ sắc mai vàng, xưởng mộc từ thiện của hai anh em họ Phùng tại Kim Long chính thức mở cửa.

Ngôi nhà xưởng ba gian rộng rãi, thoáng đãng, thơm nồng mùi mùn cưa mới. Trên vách chính gian giữa, bức tranh thờ tổ nghề mộc được treo trang trọng dưới ánh đèn vàng ấm áp. Ngay phía dưới, cuốn sổ tay nghề mộc gia bảo của dòng họ Phùng—sau khi tìm lại được trang cuối cùng từ ống trúc của cụ Phùng Thế Bang—đã được Huy nắn nót bồi biểu và đóng gáy bằng lụa tơ tằm, nằm ngay ngắn trên kệ gỗ như báu vật truyền đời về đạo đức người thợ.

Trước dãy bàn mộc dài, Phùng Thế Huy say sưa hướng dẫn khóa học trò đầu tiên gồm hơn chục thanh thiếu niên khuyết tật từ các mái ấm quanh vùng. Không còn vẻ e dè, tự ti của những năm tháng né tránh ánh nhìn người đời, Huy đứng thẳng thắn, nụ cười rạng rỡ trên môi. Cậu cầm thước mộc bằng tay trái, còn cánh tay phải với bàn tay co quắp mang vết sẹo lồi đặt vững chãi trên phôi gỗ mít, nhẹ nhàng chỉ cho một cậu bé câm điếc cách vạch đường chỉ mộng chuẩn xác từng ly “Nhìn kỹ này em. Mộng gỗ phải khít khao từ đường mực đầu tiên. Gỗ có cong vênh đến đâu, chỉ cần mình kiên nhẫn đục nắn theo chiều thớ, nó vẫn sẽ ăn khớp thành hình.”

Cậu bé khuyết tật ngước nhìn Huy bằng ánh mắt thán phục, rồi gật đầu lia lịa, cẩn thận ghì chiếc cưa nhỏ cưa từng nhịp đều đặn theo đường mực dẫn lối.

Đứng dựa khung cửa ngắm nhìn cảnh tượng ấy, Luân khẽ mỉm cười, lồng ngực dâng lên niềm xúc động khó tả. Bàn tay chai sần của anh vô thức miết nhẹ lên tay nắm cửa bằng gỗ trắc nhẵn mịn. Anh nhận ra rằng, nghề mộc gia truyền mà cụ tổ để lại chưa từng dừng lại ở việc đục đẽo gỗ đá hay dựng nên những mái nhà che mưa che nắng. Sức mạnh kỳ diệu nhất của nghề mộc chính là sự gắn kết và cứu chuộc—như cách những chiếc mộng gỗ âm dương đan cài nâng đỡ nhau qua trăm năm bão táp, như cách lòng trắc ẩn đã hóa giải oán hận trăm năm của tiền nhân và chữa lành vết thương tâm hồn tưởng chừng không bao giờ lành lặn của chính anh.

Ánh nắng vàng óng của mùa xuân xứ Huế rọi qua từng kẽ gỗ thơm mùi mùn cưa mới, hòa cùng tiếng đục lách cách rộn ràng của đàn em nhỏ, khép lại trọn vẹn những bão giông bên đầm Cầu Hai trong niềm thanh thản vô ngần.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.