Chương 1: Ngọn Gió Chướng Bên Vàm Kênh Xanh

Tiếng gió chướng đầu mùa rít qua những khe lá dừa nước ven mé rạch nghe như tiếng thở dài nhè nhẹ của đất trời.

Trời hãy còn mù sương. Đêm cuối tháng Chín âm lịch buông một dải hơi lạnh bảng lảng trên mặt kênh Xanh, phủ lên những rặng bần trĩu quả chua và những dề lục bình đang ngái ngủ một lớp màng trắng đùng đục. Dưới bến, con nước ròng sát đáy đã rút cạn từ hồi canh ba, phơi ra bãi bùn phù sa non nhẫy bóng, ngai ngái mùi rong rêu và vỏ ốc hến vỡ vụn. Thỉnh thoảng, vài chú cá thòi lòi quẫy đuôi lách chách nơi chân rễ dừa nước cắm sâu vào lòng đất bãi, khuấy động sự tĩnh mịch của dải cù lao Tân Bình nép mình giữa hai nhánh sông Tiền cuồn cuộn.

Lụa trở mình, đôi mắt mở to trong bóng tối lờ mờ. Cô nghe rõ từng nhịp thở đều đặn của thằng Thành ở gian buồng nhỏ phía sau, tiếng con thạch sùng tặc lưỡi trên rui mè bằng gỗ dầu đã lên nước bóng loáng, và cả cái se lạnh cọ vào da thịt qua lớp chăn bông mỏng sờn mép. Ngọn gió này không lẫn vào đâu được. Gió từ biển Đông thổi ngược lên, báo hiệu mùa khô sắp chớm, mùa con nước son dần nhường chỗ cho những con nước trong văn vắt, và cũng là lúc những người đàn bà xứ cù lao bắt đầu rục rịch giặt giũ mùng mền, nghĩ đến chuyện may sắm quần áo mới đón Tết.

Lụa khẽ vén màn, bước xuống chiếc giường tre cọt kẹt thật khẽ khàng để không làm em trai thức giấc. Cô với tay lấy chiếc áo bà ba màu lam bằng vải ú dày dặn mặc vào người, đôi bàn tay thon thả thuần thục gom mái tóc đen nhánh buông dài chấm thắt lưng lại, cuộn thành một búi tròn gọn gàng sau gáy rồi ghim chặt bằng chiếc kẹp đồi mồi đã mòn góc. Chiếc kẹp ấy là kỷ vật duy nhất má cô để lại từ ngày bà về làm dâu xóm bến sông này.

Lụa bước ra gian trước, đẩy hai cánh cửa gỗ bằng ván mít dày đóng then cài bằng chốt sắt. Tiếng then gỗ cọ vào bậu cửa phát ra âm thanh “cọt kẹt” khô khốc, quen thuộc đến mức chỉ cần nghe tiếng động ấy, chòm xóm ven kênh đã biết tiệm may Cúc Áo bắt đầu một ngày mới.

Gió chướng ùa ngay vào mặt, mát rượi và thanh khiết. Trước mắt Lụa, dòng kênh Xanh hiện ra mờ ảo trong sương sớm. Bên kia bờ, những rặng cây ăn trái của vườn bưởi da xanh nhà ông Bảy Kiên chìm trong sắc xám thẫm, im lìm như những người khổng lồ đang che chắn cho cù lao.

Lụa vặn to tim chiếc đèn hột vịt đặt trên góc bàn cắt. Ánh lửa vàng cam bập bùng xua bớt cái lạnh lẽo của gian nhà ba gian lợp ngói âm dương rêu phong. Ngôi nhà này do chính tay ba cô dựng lên từ hơn hai mươi năm trước, cột kèo vững chãi bằng gỗ dầu đẽo tay, gian trước dùng làm nơi may vá tiếp khách, gian sau ngăn đôi làm chỗ ngủ của hai chị em và góc bếp ấm lửa.

Cô lấy chiếc khăn vải xô mềm, cẩn thận lau chùi từng tấc bụi bám trên chiếc bàn cắt bằng gỗ mít dài hơn hai sải tay. Mặt bàn nhẵn bóng, in hằn những vết xước mờ mờ của lưỡi kéo và mũi kim qua năm tháng. Cạnh đó, hai chiếc máy may chân đạp hiệu Con Bướm – Butterfly màu đen bóng, có in hình bông cúc và viền hoa văn mạ vàng đã hơi tróc mép, đứng lặng lẽ như hai chứng nhân trầm mặc của một đời người thợ. Ba Lụa khi xưa là thợ cắt khéo có tiếng khắp mấy xã cù lao, còn má cô là tay thợ thêu hoa sen, hoa bần nức tiếng gần xa. Đôi bàn tay của ba má đã nuôi nấng chị em cô lớn khôn, và khi nằm xuống vì bạo bệnh, di sản để lại cũng chính là hai cỗ máy sắt này cùng tấm biển gỗ treo trước hàng hiên: Tiệm May Cúc Áo.

Lụa mở hũ dầu máy, nhỏ từng giọt dầu trong veo vào các ổ chao, con lăn và khớp nối chân đạp. Bàn chân cô đặt lên bàn đạp bằng gang, khẽ nhấp nhẹ. Tiếng bánh đà quay “ro ro” êm ru, con thoi đưa đi đưa lại nhịp nhàng như nhịp đập của một trái tim sống. Âm thanh ấy đối với Lụa vừa là kế sinh nhai, vừa là lời thủ thỉ bình yên xua đi nỗi cô quạnh trong căn nhà vắng bóng song thân.

Trên kệ tre đóng sát vách gỗ, những ống chỉ đủ màu xếp ngay ngắn theo tông sắc: từ đỏ điều, mỡ gà, xanh cẩm thạch đến tím lục bình. Nhưng điều làm nên nét riêng của tiệm chính là những chiếc hũ thủy tinh và giỏ mây con đựng đầy cúc áo. Lụa đưa tay nâng một chiếc hũ thủy tinh tròn xoe, bên trong là những chiếc cúc vỏ trai được đẽo gọt thủ công, lấp lánh sắc ngũ sắc dưới ánh đèn dầu le lói. Có những chiếc cúc vỏ trai ba cô lặn lội mua từ thuyền buôn ngoài cửa biển, có những chiếc cúc bấm bằng đồng đen đượm màu thời gian, và cả những chiếc cúc bọc vải hoa vụn do chính tay cô tỉ mẩn may từng cánh tròn vo như hạt đậu. Với Lụa, một chiếc áo bà ba dù vải có quý đến đâu, đường may có thẳng thớm dường nào, nếu thiếu đi hàng cúc áo cài vừa vặn, đều tăm tắp ôm sát vòng eo thì cũng như đánh mất đi cái hồn cốt đoan trang, kín đáo của người phụ nữ Nam Bộ.

Lau chùi xong xuôi máy móc, Lụa xuống bếp sau nhóm lửa. Những que củi đước khô nỏ bén lửa nổ tí tách, tỏa ra mùi khói thơm ấm nồng đặc trưng của miệt vườn sông nước. Cô bắc chiếc xửng tre lên nồi nước sôi, bỏ bát cơm nguội tối qua vào hâm lại cho dẻo, rồi mở chiếc lồng bàn nan tre lấy đĩa cá sặc ranh kho quéo mằn mặn sóng sánh mỡ thau và dĩa dưa bồn bồn ngâm chua ngọt. Bữa ăn sáng của hai chị em mồ côi bao năm qua chỉ đạm bạc bấy nhiêu, vậy mà lúc nào cũng ấm sực hơi khói.

Đang lui húi gạt tàn tro, Lụa nghe thấy tiếng bước chân rón rén sau lưng, rồi tiếng đòn gánh kẽo kẹt ngoài sàn nước.

“Chị Hai! Sao chị không gọi em dậy phụ một tay?”

Thành xuất hiện ở ngưỡng cửa bếp, đầu tóc còn hơi bù xù nhưng đôi mắt sáng ngời. Cậu thiếu niên mười tám tuổi dong dỏng cao, khuôn mặt thư sinh mang trọn nét hiền hậu của má, chỉ có đôi vai gầy guộc là sớm vương nét nhọc nhằn. Thành khoác chiếc áo sơ mi cộc tay đã ngả màu cháo lòng, ống quần xắn cao quá gối, hai tay xách hai chiếc thùng thiếc đựng đầy nước kênh.

“Gió chướng lạnh buốt, mày ngủ thêm chút nữa cho đẫy giấc, ráng học khuya chi cho thâm quầng hai con mắt,” Lụa trách yêu, vội bước lại đỡ lấy quai thùng thiếc trút vào chiếc lu sành da lươn kê bên mé sàn. “Nước ròng bùn sình dữ lắm, xách cẩn thận kẻo trượt chân dưới bến nghen Thành.”

“Em quen chân rồi, té làm sao được mà chị lo,” Thành cười hì hì, lau mồ hôi lấm tấm trên trán vào vạt áo. Cậu với tay lấy cục phèn chua to bằng nắm tay thả vào lu nước, dùng chiếc que tre khuấy đều theo hình xoắn ốc cho phèn tan ra. “Em quậy thùng phèn này chừng nửa tiếng là nước trong leo lẻo, lát nữa chị có nước ngọt mà nấu canh với giặt áo lụa cho khách. Nước kênh mùa gió chướng bắt đầu gắt phèn rồi đó chị, nếu không đánh phèn kỹ, giặt vải sáng màu là ố vàng liền.”

Nhìn em trai thoăn thoắt làm việc, Lụa nghe lòng dâng lên một niềm thương cảm vô bờ. Cha má mất sớm, Thành xem cô vừa là chị, vừa là người mẹ chở che. Dù nhà nghèo, cơm bữa đói bữa no, cô chưa từng để em phải thiếu thốn trang sách, cây viết hay chịu thua thiệt bạn bè cùng trang lứa trên trường huyện.

“Rửa mặt mũi rồi vô ăn cơm nguội kẻo nguội ngắt kìa,” Lụa múc cơm ra hai chiếc bát sành hoa lam, gắp con cá sặc béo ngậy nhất bỏ vào bát của em. “Hôm nay thi học kỳ môn Văn xong rồi phải hông?”

Nghe chị hỏi tới chuyện học, đôi mắt Thành bỗng sáng bừng lên như có ánh sao sa. Cậu buông chiếc que quậy phèn, lau vội hai bàn tay ướt vào hông quần rồi chạy vụt vào góc học tập bên vách gỗ, lôi ra một tập giấy học trò cuộn tròn trong chiếc cặp táp may bằng vải bạt cũ.

“Chị Hai! Em tính đợi ăn cơm xong mới khoe, mà chị hỏi là em nhịn hổng nổi nữa rồi!” Thành chìa tờ giấy thi ra trước mặt Lụa, giọng run run vì phấn khích tột cùng. “Thầy giáo trả bài hồi chiều hôm qua. Bài luận văn tả về con nước nổi và tình đất cù lao của em được điểm chín, cao nhứt toàn khối mười hai trường huyện đó chị! Thầy còn phê dưới bài là lời văn mộc mạc mà thấm đẫm nghĩa tình quê hương.”

Lụa nhận lấy tờ giấy, đôi mắt rà từng dòng chữ viết tay nắn nót, thẳng hàng thẳng lối của em. Dưới ánh đèn dầu hột vịt, con điểm chín đỏ chói lọi cùng lời khen của thầy giáo như thắp sáng cả gian bếp nghèo. Bàn tay thon thả của cô khẽ run lên, ngón tay miết nhẹ trên mặt giấy ráp.

“Giỏi lắm… Thành của chị giỏi lắm…” Lụa nghẹn ngào, nụ cười rạng rỡ nở trên môi nhưng nơi khóe mắt đã ngân ngấn nước. “Má ở trên bàn thờ ngó xuống chắc mừng dữ lắm. Má hồi đó mê chữ nghĩa, lúc nào cũng ước xóm này có một thầy giáo làng dạy chữ cho con nít nghèo.”

Thành ngồi xuống bên cạnh chị, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên mặt bàn gỗ, ánh mắt nhìn ra khoảng mông lung của dòng kênh mờ sương “Chị Hai… Hôm qua thầy hiệu trưởng có gọi em vô văn phòng. Thầy nói năm nay Trường Đại học Sư phạm Cần Thơ có chỉ tiêu tuyển sinh cho học sinh vùng sâu vùng xa miệt sông nước. Thầy khuyên em làm hồ sơ thi vô ngành Sư phạm Văn. Em… em mê nghề gõ đầu trẻ lắm chị Hai. Em ước sau này ra trường, cầm tấm bằng cử nhân trở về cù lao Tân Bình, xin vô dạy trường cấp hai xã mình. Tụi nhỏ xóm bãi bần nghèo quá, cứ học tới lớp năm lớp sáu là bỏ đi chăn vịt, đi làm mướn… Em muốn dạy tụi nó học chữ, học làm người.”

Cậu thiếu niên nói một hơi, giọng nói tràn đầy nhiệt huyết và lý tưởng trong trẻo của tuổi mười tám. Thành ngước nhìn chị, nụ cười rạng rỡ “Em tính rồi, vô trường sư phạm người ta miễn tiền học phí cho sinh viên, em chỉ cần kiếm tiền ăn cơm ngày hai bữa. Lên thị xã Cần Thơ, em sẽ xin đi dạy kèm buổi tối, rảnh thì chạy ra bến đò Ninh Kiều bốc vác mướn kiếm thêm tiền gởi về cho chị phụ tiền thuốc men ngày xưa của ba má…”

Nghe em nói đến đó, trái tim Lụa bỗng thắt lại một nhịp đau nhói. Cô nhìn bờ vai gầy guộc của Thành, nhìn đôi bàn tay chai sạn vì sớm phải cầm cuốc, chèo xuồng phụ chị, lòng quặn thắt xót xa. Cần Thơ xa xôi dẫu có miễn học phí đi chăng nữa, thì tiền tàu xe, tiền sách vở giáo trình, tiền thuê căn gác trọ ọp ẹp và cơm ngày hai bữa giữa chốn thị thành đắt đỏ đâu phải chuyện đùa. Huống chi, kỳ thi đại học phía trước còn cần biết bao nhiêu tiền mua tài liệu ôn tập, tiền lệ phí thi cử nộp cho hội đồng tỉnh…

Lụa cố nén tiếng thở dài, giấu nỗi âu lo vào tận đáy mắt. Cô đưa tay xoa nhẹ mái tóc bù xù của em, giọng nói ấm áp và kiên định như một điểm tựa vững chãi nhất trên đời “Em cứ chuyên tâm học cho thiệt giỏi, nghe lời thầy cô chỉ dạy. Chuyện tiền bạc, lộ phí lên Cần Thơ đi thi, một tay chị Hai lo liệu hết. Mày là hy vọng của cả cái nhà này, của cả tía má dưới suối vàng. Chị có phải thức trắng đêm đạp máy may, mòn gót chân đi giao đồ, chị cũng nhất định nuôi mày đỗ đạt thành tài!”

“Chị Hai…” Thành nhìn chị, đôi mắt hoe đỏ. Cậu biết chị mình luôn cứng cỏi như cây bần cắm rễ sâu nơi vàm kênh, sóng gió cỡ nào cũng cắn răng chịu đựng một mình.

“Thôi, ăn cơm lẹ đi rồi chuẩn bị xuồng sang sông đi học,” Lụa giục, gắp thêm con cá kho bỏ vào chén em. “Để trễ chuyến đò ngang của bác Tám là trễ giờ học bây giờ.”

Hai chị em lặng lẽ ăn xong bữa cơm sáng khi trời vừa hửng rạng. Thành dọn dẹp chén đũa mang ra sàn nước rửa sạch bong, rồi cắp chiếc cặp bạt bước vội ra bến. Lụa đứng bên hàng hiên, nhìn theo bóng dáng chiếc xuồng ba lá của bác Tám đò ngang chầm chậm rẽ sóng đưa em trai cùng đám học trò trường huyện sang bờ bên kia, lòng vừa tràn ngập tự hào, vừa trĩu nặng những âu lo thường nhật.

“Lụa ơi! Lụa à! Con nhỏ này dậy sớm dữ hôn!”

Một giọng nói hào sảng, vang rền đặc trưng của người miệt vườn cất lên từ ngoài ngõ râm mát bóng dừa. Lụa quay đầu lại, đã thấy bóng dáng đẫy đà của bà Năm Búp đang săm săm bước vào qua rặng râm bụt trổ hoa đỏ chói.

Bà Năm Búp trạc ngoài năm mươi, người đẫy đà, trên cổ lúc nào cũng vấn chiếc khăn rằn sọc xanh trắng quen thuộc. Miệng bà nhai trầu bỏm bẻm, môi đỏ thắm như thoa son tàu. Trên tay bà bưng một chiếc đĩa sành lớn, bên trên phủ một manh lá chuối tươi còn đọng những giọt sương mai lóng lánh.

“Dạ, con chào thím Năm!” Lụa đon đả bước xuống bậc thềm đón lấy chiếc đĩa từ tay bà hàng xóm tốt bụng. “Gió chướng lạnh quá chừng mà thím đi đâu sớm dữ vậy thím?”

“Lạnh gì với cái thân già này mậy!” Bà Năm Búp cười xòa, đặt chiếc đĩa lên bàn cắt rồi lật manh lá chuối ra. Mùi thơm ngọt ngào của nếp sáp quyện cùng đậu xanh cà, vị béo ngậy của nước cốt dừa và thoang thoảng hương thơm thanh tao của lá dừa nước lập tức lan tỏa khắp gian nhà. “Hồi hôm tao thức canh nồi bánh lá dừa cúng tuần cho ông già, vớt ra mấy đòn bánh nếp ngon ngót, đem qua cho hai chị em bây dằn bụng ăn sáng nè. Thằng Thành đâu rồi?”

“Dạ, em nó vừa sang sông đi học rồi thím. Con cảm ơn thím Năm nhiều nghen, bánh thím gói là khéo nhứt cái cồn này, nếp dẻo quẹo hà,” Lụa lễ phép nói, lòng thấy ấm áp lạ kỳ trước sự quan tâm mộc mạc của người chòm xóm.

Bà Năm Búp kéo chiếc ghế đẩu tre ngồi xuống, quệt vôi ăn trầu cái rột, đưa mắt ngắm nghía gian tiệm may ngăn nắp rồi gật gù “Mồ côi mồ cút mà hai chị em bây biết bảo bọc nhau, ăn ở nề nếp như vầy, tía má bây dưới chín suối cũng mát ruột mát gan. À, tao qua đây còn có chuyện nhờ mày nè Lụa.”

Nói đoạn, bà Năm thò tay vào chiếc giỏ đệm mang theo bên hông, rút ra một xấp vải được bọc cẩn thận trong giấy báo cũ. Khi lớp giấy mở ra, một dải lụa tơ tằm mềm óng màu mỡ gà rủ xuống mặt bàn, mịn màng và mát rượi dưới ánh nắng sớm.“Mày coi, con dâu tao ngoài thị xã mới gởi về biếu tao tuần trước. Nó biểu lụa này lụa tốt, mặc mát mà sang cả lắm. Mày cắt cho tao một bộ bà ba thiệt khéo đặng tháng sau tao bận đi ăn đám giỗ đầu ông anh thứ Ba ngoài vàm sông Cái nghen.” Bà Năm v**t v* mặt vải, ánh mắt lộ rõ vẻ tự hào. “Tao chỉ tin mỗi cái tay kéo của con Lụa tiệm Cúc Áo thôi. Mấy đứa con gái bây giờ mặc đồ xốc xếch thấy ớn, bận cái áo bà ba mà eo hổng ra eo, vai hổng ra vai, nhìn như bao tải đựng trấu!”

Lụa mỉm cười, đôi mắt sáng lên niềm say mê nghề nghiệp khi chạm tay vào tấm vải lụa thượng hạng. Cô cầm sợi thước dây quàng qua cổ, đứng dậy bước lại gần bà Năm “Dạ, thím Năm đứng lên con đo lại số đo một chút nghen. Lụa này có độ rủ tự nhiên, con sẽ vạt nách lượn ôm khít một chút, đường eo thắt đáy lưng ong vừa phải để thím đi đứng, ngồi xuống lạy đám giỗ cho thong thả mà vẫn tôn dáng, hổng bị kích nách đâu thím.”

Bà Năm Búp đứng thẳng người cho Lụa đo, miệng vẫn không ngừng chuyện trò “Đó, tao ưng cái bụng là ưng cái nết chu đáo của mày đó con. Khéo tay, hiền thục, nết na từ tảng sáng tới xế chiều… Mà tao nói thiệt nè Lụa, năm nay mày hăm bốn tuổi đầu rồi đó nghen bay!”

Bà Năm đột ngột đổi giọng, ngón tay trỏ điểm nhẹ vào vai Lụa, đôi mắt ti hí nheo lại vẻ đầy toan tính thương yêu “Gái hăm bốn ở cái xứ cù lao này là người ta con bồng con bế, tay xách nách mang hết trơn rồi. Mày cứ thui thủi ôm hai cái máy may sắt mục này miết, rồi lỡ thì con gái ra đó ai rước? Hổm rày, bà Ba xóm trên có ghé tao đánh tiếng hoài đó. Thằng Hai Thao con bả, làm thợ bạc ngoài chợ xã, tướng tá coi cũng đặng, tánh tình chịu làm ăn. Bả biểu nếu mày ưng, bả mang cơi trầu đôi bông mù u sang dạm ngõ liền, lại còn hứa cho tiền chuộc hết nợ nần cũ của ba má mày nữa…”

Bàn tay đang giữ sợi thước đo nơi vòng eo bà Năm của Lụa khẽ khựng lại trong giây lát. Nụ cười trên môi cô chùng xuống, thoáng qua một nét buồn kín đáo như vệt bóng mây lướt trên mặt kênh.

Chuyện nợ nần… Lại là món nợ năm xưa.

Lụa nhẹ nhàng buông thước dây, lùi lại một bước, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát “Con cảm ơn lòng tốt của thím Năm và bà Ba xóm trên. Nhưng mà thím ơi, thằng Thành năm nay cuối cấp, nó đang dốc sức ôn thi vô trường đại học dưới Cần Thơ. Con chỉ có một đứa em trai duy nhất, tía má trước lúc nhắm mắt đã cầm tay con dặn dò phải lo cho em nên người. Chừng nào thằng Thành chưa đỗ đạt, chưa có cái nghề cái nghiệp ổn định trong tay, thì con chưa dám tơ tưởng tới chuyện chồng con chi hết thím à. Lập gia đình rồi, vướng bận con cái bếp núc, làm sao con toàn tâm toàn ý lo cho em được.”

Bà Năm Búp nhìn gương mặt thanh tú phảng phất nét cương nghị của cô gái trẻ, khẽ buông một tiếng thở dài thương cảm. Bà vỗ vỗ lên mu bàn tay Lụa, giọng chùng xuống “Cha bố mày, cái tánh cứng cỏi y chang ông thân sinh mày hồi đó! Thôi thì tùy cái duyên cái số của mày. Nhưng mà ráng giữ gìn sức khỏe nghen con, thức đêm thức hôm hoài coi chừng hao mòn nhan sắc đó.”

“Dạ, con biết rồi thím Năm,” Lụa cười tươi trở lại, tiễn bà Năm ra tận bờ rào râm bụt.

Khi bóng dáng đẫy đà của người hàng xóm khuất sau rặng dừa, gian nhà lại rơi vào khoảng không tĩnh lặng quen thuộc. Tiếng gió chướng vẫn ràn rạt thổi qua mái ngói âm dương, cuốn theo vài chiếc lá bần khô xào xạc trên sân đất.

Lụa quay vào tiệm. Cô không vội cầm kéo cắt vải ngay mà bước chậm lại phía chiếc bàn cắt gỗ mít. Dưới gầm bàn, nơi góc khuất tối nhất, có một ngăn kéo nhỏ khóa bằng chiếc ổ khóa đồng đã xỉn màu. Lụa lấy chiếc chìa khóa nhỏ giấu dưới đáy lọ cúc áo, tra vào ổ mở ra.

Bên trong ngăn kéo, nằm gọn lỏn dưới những cuộn chỉ thêu Cô Tiên óng ả, là một cuốn sổ tay nhỏ bìa cứng bọc vải hoa đã sờn rách bốn góc. Lụa nâng cuốn sổ lên, cẩn thận lật từng trang giấy ố vàng đã ngả màu thời gian.

Đó là cuốn sổ ghi nợ thuốc men của gia đình cô.

Năm năm trước, ba cô ngã bệnh lao phổi nặng, rồi chỉ hai năm sau, má cô cũng suy kiệt vì chứng bạo bệnh mà qua đời theo ông. Bao nhiêu vốn liếng tích cóp một đời của tiệm may nhỏ bé này đều đội nón ra đi theo những thang thuốc bắc, thuốc tây đắt đỏ từ tỉnh gởi về. Để có tiền chạy chữa cho cha mẹ đến hơi thở cuối cùng, cô gái mười chín tuổi khi ấy đã phải cắn răng đi vay mượn khắp các mối quen trong làng, ngoài xã.

Từng trang sổ là từng nét chữ run rẩy của người cha trước lúc lâm chung, xen lẫn nét chữ nắn nót của Lụa ghi lại những khoản tiền đã chắt chiu trả dần qua năm tháng: Trả thím Năm hai chỉ vàng… Trả chú Bảy Kiên một triệu đồng… Trả tiệm thuốc bắc chợ huyện năm trăm ngàn…

Ba năm qua, nhờ cặm cụi may vá thâu đêm suốt sáng, không dám ăn một bữa cơm ngon, không dám may cho mình một chiếc áo mới, Lụa đã trả được phần lớn nợ nần. Nhưng ở trang cuối cùng, con số ghi nợ tiệm thuốc tây ngoài thị xã và một món nợ nặng lãi của người ta vẫn còn sờ sờ ở đó: ba triệu đồng. Đối với một người thợ may miệt cù lao mỗi ngày chỉ kiếm được vài ngàn tiền công từ những đường kim mũi chỉ, ba triệu đồng là cả một gia tài khổng lồ, như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên đôi vai mảnh dẻ của cô.

Lụa nhớ như in cái đêm mưa gió năm cô mười sáu tuổi. Người ta mang giấy nợ đến nhà, ép ba cô gả cô cho một gia đình địa chủ giàu có ngoài vàm sông để cấn trừ nợ nần. Ba cô, khi ấy đang ho ra từng ngụm máu trên giường bệnh, đã gượng dậy, giật phắt tờ giấy nợ xé tan thành từng mảnh vụn ném vào mặt người ta. Ông ôm lấy cô vào lòng, run rẩy nói trong nước mắt: “Con gái ba sinh ra lành lặn, có bàn tay có khối óc, không phải món hàng để người ta đem ra đổi chác gán nợ! Ba có chết rũ xương cũng không để con chịu khổ!”

Ký ức ấy như ngọn lửa bỏng rát khắc sâu vào tâm khảm Lụa. Cô gấp cuốn sổ lại, khóa chặt ngăn kéo. Nỗi bất an sâu kín về cơm áo gạo tiền, về tương lai của Thành và sự tồn vong của tiệm may này lại một lần nữa dâng lên nghẹn đắng nơi cuống họng. Cô phải giữ lấy tiệm may này, phải giữ cho tiếng máy may tiếp tục reo vang như lời hứa trước vong linh ba má.

Lụa hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió mát lành từ dòng kênh thổi vào để trấn tĩnh lại cõi lòng. Cô trải xấp lụa mỡ gà của bà Năm Búp lên mặt bàn gỗ mít. Lấy cục phấn may màu xanh lam đã mòn vẹt, Lụa bắt đầu đặt thước kẻ những đường cong mềm mại đầu tiên.

Ngón tay trỏ có vết chai mịn vì cầm kéo nhiều năm của cô lướt thoăn thoắt trên nền lụa. Từng đường phấn vẽ vạt trước, vạt sau, nách lượn và tà áo hiện ra uyển chuyển như một nét vẽ thủy mặc. Lụa cầm chiếc kéo sắt nặng trịch do ba truyền lại, lưỡi kéo sắc lẹm lướt đi êm ru trên thớ vải, phát ra những tiếng “xoẹt… xoẹt…” giòn tan, ngọt lịm.

Cắt xong thân áo, Lụa ngồi vào bàn máy may. Ánh nắng ban mai đã bắt đầu rọi xiên qua những rặng dừa nước ngoài mé rạch, dát một dải vàng lấp lánh lên sàn gạch tàu đỏ au. Cô xỏ sợi chỉ tơ màu vàng đồng qua lỗ kim nhỏ xíu, đặt mép vải dưới chân vịt rồi nhấp nhẹ bàn đạp. Tiếng máy may lại rộn rã cất lên nhịp nhàng, hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân cầu bến nước.

Lụa nghiêng mình, chăm chú dõi theo từng đường kim mũi chỉ đang viền quanh đường nách áo. Sự tỉ mỉ, công phu của một người thợ may thủ công dồn hết vào từng milimet vải. Với chiếc áo bà ba truyền thống, đường viền nách áo là nơi khó may nhất; nếu tay nghề non kém, đường may sẽ bị nhăn nhúm hoặc co kéo, làm mất đi vẻ thanh thoát của bờ vai người phụ nữ. Lụa nín thở, cẩn thận so từng nếp gấp nhỏ li ti, tay xoay bánh đà chầm chậm từng vòng một.

Đúng lúc ấy, một âm thanh lạ lùng, chói gắt đột ngột xé toạc không gian thanh bình của bến kênh Xanh.

“Tuuuuu… uuu… uuu…!”

Tiếng còi tàu rúc lên một hồi dài, vang rền và đanh thép, dội thẳng vào vách nhà gỗ khiến những giọt nước đọng trên mái hiên giật mình rơi lộp độp xuống đất. Tiếp sau đó là tiếng máy nổ “bành bành… bành bành…” gầm rú dữ dội, khuấy đảo cả một vùng nước phẳng lặng như gương.

Lụa giật thót mình, mũi kim may dừng khựng lại trên mép vải lụa.

Tiếng còi ấy quá đỗi xa lạ đối với dải cù lao Tân Bình vốn chỉ quen thuộc với tiếng mái chèo khua nước êm đềm của xuồng ba lá, hay tiếng máy đuôi tôm lạch cạch chở rau củ đi chợ sớm. Âm thanh này lớn hơn, nặng nề hơn và mang theo một sự xáo động mãnh liệt từ chốn thị thành xa xôi vọng về.

Bên ngoài bờ rào, tiếng chân người chạy rầm rập trên con đường đất đỏ rợp bóng dừa. Tiếng chó sủa ran khắp đầu xóm bãi bần.

“Bớ bà con cô bác ơi! Xuồng máy của ai to dữ hôn kìa!”

“Ghe của cán bộ tỉnh! Cán bộ từ thị xã Cần Thơ về làng kìa bà con ơi!”

Tiếng la thất thanh của mấy đứa nhỏ đi chăn vịt hòa cùng tiếng gọi nhau í ới của những người làm vườn bên liếp bưởi.

Lụa buông vạt áo đang may dở, đứng dậy bước ra hàng hiên. Gió chướng thổi tung tà áo lam của cô, mang theo hơi nước mằn mặn và mùi dầu máy khét lẹt từ chiếc xuồng lạ vừa cập bến.

Qua rèm lá dừa nước rủ bóng ven kênh, Lụa nhìn thấy một chiếc xuồng máy vỏ nhôm to lớn, sơn màu xám tro của cơ quan nhà nước đang từ từ ghé mũi vào cầu đò ván gỗ trước vàm kênh. Trên xuồng chất đầy những hòm xiểng, thùng gỗ nặng trịch, những cuộn dây thép, cọc tiêu sơn hai màu trắng đỏ và những chiếc máy đo đạc ba chân bằng kim loại sáng loáng, cồng kềnh chưa từng thấy ở xứ này bao giờ.

Trên mũi xuồng, một đoàn người ăn mặc tề chỉnh đang lục tục chuẩn bị bước lên bến. Đi đầu là một thanh niên dáng người cao ráo, khoác chiếc áo sơ mi sẫm màu xắn cao tay áo, đôi mắt sáng chăm chú nhìn về dải đất cù lao với một vẻ mặt đăm chiêu, rắn rỏi.

Chiếc xuồng máy rùng mình cập sát bến bến đò, khuấy tung một cuộn bùn non đỏ quạch dưới đáy kênh Xanh, báo hiệu những đổi thay lớn lao sắp sửa tràn qua dải đất thanh bình này.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.