Chương 1: Tiếng Phấn Rơi Trong Bóng Tối

Tiếng đầu phấn nén miết mạnh lên mặt bảng bỗng khựng lại, rồi gãy vụn thành ba tiếng lách tách khô khốc rơi xuống rãnh bảng gỗ.

Trần Mai Lam khẽ nghiêng đầu, thu trọn từng âm vang nhỏ nhoi ấy vào thính giác mẫn cảm của mình. Giữa không gian tĩnh lặng của lớp 8/2 Trường THCS Hòa Vang, tiếng quạt trần quay đều đều phả luồng gió hanh hao qua mái tóc, mang theo hương hoa phượng vĩ cuối mùa thoảng vào từ khung cửa sổ. Toàn bộ tâm trí cô bé mười bốn tuổi dồn cả vào những bước chân nhịp nhàng cùng lời giảng sang sảng của thầy giáo dạy môn Vật lý trên bục giảng – Các em quan sát đường đi của chùm tia sáng trên bảng. Theo định luật truyền thẳng, ánh sáng luôn đi theo đường thẳng trong môi trường trong suốt và đồng tính. Khi Mặt Trăng di chuyển vào khoảng không gian thẳng hàng nằm giữa Mặt Trời và Trái Đất, phần thân đặc của nó sẽ chắn đứng luồng sáng ấy. Phía sau Mặt Trăng hình thành vùng bóng tối hoàn toàn và vùng bóng nửa tối. Nơi nào trên Trái Đất rơi trọn vào vùng bóng tối sẽ quan sát được nhật thực toàn phần.

Tiếng ngòi bút bi sột soạt ghi chép vang lên rào rào quanh phòng học. Ngay bên cạnh, Nguyễn Văn Đức – cậu bạn cùng bàn thân thiết – đang hí hoáy lật mở trang sách giáo khoa mới tinh, miệng trầm trồ khe khẽ – Đẹp và rõ lắm Lam ơi! Trong hình vẽ có hai cái nón bóng tối lồng vào nhau, các tia sáng từ rìa Mặt Trời được kẻ thành những đường chỉ đỏ sắc lẹm, đâm xiên qua mép Mặt Trăng rồi phủ trùm lên một khoảng xích đạo Trái Đất...

Nghe bạn tả, ngón tay trỏ của Lam khẽ run rẩy. Em lần theo mép bàn gỗ sang phía cuốn sách của Đức. Nhưng thứ duy nhất đón nhận mười đầu ngón tay mẫn cảm của em chỉ là một mặt giấy phẳng lì, trơn tuột và lạnh ngắt. Lớp mực in rực rỡ mà bạn bè đang say sưa ngắm nghía, đối với thế giới của Lam, hoàn toàn câm lặng. Dù em có cố miết sâu đầu ngón tay đến ửng đỏ, mặt giấy bóng vẫn trơ lì không một gờ nổi, không một đường rãnh định hình.

Bốn năm trước, căn bệnh thoái hóa võng mạc bẩm sinh cướp đi vệt sáng cuối cùng năm em lên mười tuổi, bóng tối vĩnh viễn phủ chụp lấy đôi mắt trong veo. Thế nhưng, bóng tối chưa bao giờ dập tắt được ngọn lửa tò mò về quy luật của muôn ngàn tinh tú trong lòng Lam. Em muốn biết một vùng bóng tối khi trải ra trong không gian bao la sẽ có hình thù thế nào. Em khao khát hình dung được quỹ đạo khổng lồ mà Trái Đất cùng Mặt Trăng đang miệt mài xoay chuyển quanh Mặt Trời giữa vũ trụ sâu thẳm.

– Cậu có thấy góc nghiêng của các tia sáng không, Đức? – Lam ghé sát tai bạn, thì thầm với giọng nghẹn ngào.

– Nó... nó là các đường chéo đan vào nhau thành một hình nón thuôn dài, đáy rộng ở phía Mặt Trời rồi hẹp dần về phía Trái Đất. – Giọng Đức ngập ngừng, đầu bút bi gõ lách cách xuống mặt bàn bối rối. – Nhưng tớ chẳng biết làm sao để cậu sờ thấy được độ dốc và khoảng cách ấy. Mặt giấy này trơn quá, giá như có mô hình nổi nào đó để cậu chạm tay vào thì tốt biết mấy...

Lời bạn như một vết cứa khẽ vào nỗi niềm giấu kín trong lòng Lam. Cô bé lặng lẽ rụt tay về mép bàn, đặt lên tập giấy bìa chữ nổi Braille dày cộp. Chiếc bảng gài kim loại và từng hàng lỗ đục chữ nổi li ti đã đồng hành cùng em suốt những năm tháng học trò hòa nhập, giúp em ghi nhớ công thức vận tốc hay định luật quang học. Thế nhưng, những chấm tròn bất động ấy lại hoàn toàn bất lực trong việc tái hiện không gian ba chiều sống động của các thiên thể.

Làm sao những nốt chấm thô mộc trên một mặt phẳng có thể lột tả được vòng quay bất tận của vũ trụ? Sự thiếu thốn giáo cụ trực quan chuyên biệt nơi ngôi trường ngoại thành Hòa Vang dựng nên bức tường vô hình ngăn cách em với chân trời khoa học tự nhiên. Giữa căn phòng học chan hòa ánh sáng và rộn rã tiếng bàn luận của bạn bè, Lam cảm thấy mình lạc lõng đến nghẹn lòng, trơ trọi giữa một khoảng trời tối tăm câm lặng.

“Keng! Keng! Keng!”

Hồi chuông sắt báo hết tiết vang lên dồn dập. Tiếng ghế gỗ xô đẩy lạo xạo lập tức rộ lên khắp phòng. Cả lớp ùa dậy thu dọn đồ đạc, tiếng í ới gọi nhau xuống sân trường làm bừng tỉnh bầu không khí oi nồng buổi ban trưa. Lam vội vã đưa tay xếp ngay ngắn từng tờ giấy bìa dày, khép mặt chiếc bảng gài bằng nhôm mát lạnh. Nhưng trong lúc với lấy chiếc cặp vải bên góc bàn, cổ tay áo đồng phục của em vô tình quẹt mạnh vào mép gỗ.

“Lách cách... keng!”

Một tiếng kim loại sắc lạnh vang lên khi chiếc dùi sắt bấm Braille – kỷ vật quý giá mẹ chắt chiu từng đồng tiền bán bánh bèo ở chợ Miếu Bông mua tặng em ngày vào lớp Sáu – trượt khỏi mặt bàn, rơi cắm xuống nền gạch rồi lăn lông lốc ra giữa lối đi chung của hai dãy bàn.

– Ôi! – Lam thốt lên hoảng hốt, lồng ngực thắt lại.Chiếc dùi sắt ấy là chiếc cầu nối duy nhất giúp em ghi chép bài vở hằng ngày. Nếu đầu kim thép sắc nhọn bị cong vênh hay gãy gập dưới gót giày bạn bè, buổi học chiều nay và cả chuỗi ngày sắp tới của em sẽ rơi vào bế tắc. Quên cả việc giữ gìn sự chỉn chu thường ngày, Lam vội vàng quỳ gối trên nền gạch hoa mát lạnh của lớp học.

Mười đầu ngón tay em run rẩy cuống cuồng rà soát từng khoảng sàn bám bụi phấn. Em lia tay theo đường ron gạch, chạm phải mẩu vụn gọt bút chì khô khốc nhưng chiếc dùi vẫn bặt tăm. Vài bước chân học trò chạy ùa qua làm vạt áo lay động, tiếng đế giày cọ xát rầm rập trên sàn khiến cô bé càng thêm quýnh quáng, nhịp tim đập loạn xạ trong lồng ngực nhỏ bé.

Bỗng nhiên, một làn hương thơm mộc mạc và ấm áp thoảng qua khứu giác mẫn cảm của Lam: mùi dăm gỗ mít nồng ngái quyện cùng hương dầu tràm xoa bóp và thoảng chút hương thanh tao của búp chè khô.

Tiếng bước chân chậm rãi, trầm ổn dừng lại ngay sát bên cạnh em.

Một bàn tay to bản, thô ráp chạm khẽ vào mu bàn tay Lam, nhẹ nhàng ngăn ngón tay em khỏi va phải cạnh chân bàn sắt sắc nhọn. Rồi người ấy cúi thấp xuống, tiếng kim loại lách cách khẽ vang lên khi người ấy nhặt lấy chiếc dùi – Đừng vội, con gái. Có thầy đây rồi.

Giọng nói cất lên trầm ấm lạ thường, mang âm sắc đôn hậu và ngữ điệu xứ Quảng mộc mạc, chan chứa sự bao dung sâu sắc của một người thầy cả đời gắn bó với phấn trắng bảng đen. Người ấy từ tốn nâng bàn tay nhỏ bé của Lam lên, nhẹ nhàng đặt chiếc dùi sắt vào trọn lòng tay em.

Đầu ngón tay Lam khép lại quanh thân gỗ tiện tròn của chiếc dùi thân thương, rồi chạm vào bàn tay người vừa giúp mình.

Đó là một bàn tay vô cùng đặc biệt. Lòng bàn tay ấm sực, dày dặn, từng khớp ngón tay hằn sâu những vết chai sần thô ráp tựa như thớ vỏ cổ thụ qua bao mùa giông bão. Đó là đôi bàn tay của một người vừa gắn bó trọn đời với nghề giáo, vừa say mê những đường cưa, mũi đục nhọc nhằn. Từng đường vân chai sạn ấy truyền sang da thịt Lam một cảm giác che chở vững chãi lạ kỳ, khiến nỗi hoang mang vừa bùng lên trong em bỗng chốc tan biến.

Bên cạnh, tiếng Đức bỗng khựng lại rồi cất lên đầy kinh ngạc, vội vã thưa gửi thật lễ phép – Dạ... chúng con kính chào thầy ạ! Thầy Tường... thầy mới về trường làm cố vấn khoa học cho chúng con đúng không ạ?

Lam sững người. Em từng nghe các thầy cô trong trường nhắc đến thầy Chiêm Quốc Tường – vị Nhà giáo Ưu tú dạy môn Vật lý lừng danh một thời, người đã cống hiến trọn bốn mươi năm cuộc đời cho bục giảng và đã nghỉ hưu mười lăm năm trước. Nay thầy vừa nhận lời trở lại ngôi trường Hòa Vang này để dìu dắt phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật cho các thế hệ học trò kế tiếp.

Bàn tay thô ráp của người thầy già không vội buông ra. Ông ân cần khép chặt tay Lam quanh chiếc dùi sắt để bảo đảm nó đã nằm an toàn trong tầm tay em. Hơi thở trầm tĩnh cùng sự kiên nhẫn toát ra từ người thầy già dường như đang thấu suốt nỗi cô đơn sâu thẳm và ngọn lửa khát khao tri thức giấu kín sau đôi mắt phủ màng sương mờ đục của cô học trò nhỏ.

Lam khẽ chạm vào những vết chai sần của người thầy già xa lạ, chưa kịp cất lời cảm ơn thì thầy đã từ tốn hỏi một câu làm tim em thắt lại – Có phải mắt con không thấy, nhưng trong tâm trí con đang vẽ nên cả một bầu trời sao?

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.