Chương 23: Thẻ Ngà Trao Lại Mùa Vàng Vui

Khâm sai Bạch Trực Tiên đứng uy nghiêm trên gò đất cao, hai tay nâng đạo sắc chỉ hoàng kim rực rỡ cùng tráp gấm đỏ thắm đựng viên Diên Thọ Tiên Đan thoang thoảng dược hương thanh khiết. Lời tuyên đọc vừa dứt, bốn bề đồng bãi bỗng chốc lặng phắc. Hàng ngàn nông dân xóm Đông, xóm Nam cùng toàn thể quan lại, nha dịch đều nín thở dõi mắt về phía lão lại già đang khoác manh áo chàm mộc mạc.

Tiền Đình Thược khẽ hít một hơi dài, cảm nhận luồng sinh khí ấm áp của đất trời quê hương xoa dịu vết bỏng đã khô miệng nơi mạn sườn phải. Cụ không bước lên đài cao vinh hiển. Ngược lại, dù đôi chân run rẩy vì tuổi tác nhưng vững vàng bởi cốt cách, cụ từ tốn lùi lại nửa bước, rồi chầm chậm quỳ sụp xuống nền đất phù sa màu mỡ bên bờ sông Linh Tuyền. Cụ dập đầu sát đất, hai tay chắp trước trán, giọng nói trầm ổn vang lên rành rọt giữa không gian trang nghiêm: — Bẩm Khâm sai đại nhân, ân trạch của triều đình và thánh ân của hoàng thượng, lão lại này xin ghi lòng tạc dạ. Nhưng bảy mươi hai năm trước, khi mới tròn bốn mươi tuổi, lão từng chối từ linh đan của hào tộc chỉ cốt giữ trọn tấm lòng thanh sạch của kẻ chép sử đất đai phàm trần. Nay lão đã một trăm mười hai tuổi, hạt cát bụi trần đi gần trọn kiếp người, răng long tóc bạc, sức mòn lực kiệt. Chức quan thất phẩm hay tiên đan nghìn năm, lão nhận lấy cũng chỉ làm vướng bận tấm thân tàn. Lão lại này chỉ xin đại nhân tâu lên triều đình, cho phép lão được giữ trọn manh áo vải chàm, ở lại chốn thôn dã này an hưởng tuổi già, ngày ngày nhấp chén trà xuân bên bà con xóm giềng!

Lời giãi bày chất phác mà đanh thép như ngọc rơi mâm đồng. Khắp bờ sông, tiếng xì xào kính phục nổi lên như sóng triều. Không ít bộc lão và nông dân đã đưa vạt áo lau nước mắt.

Bạch Trực Tiên sững sờ nhìn lão lại già dưới chân gò. Đôi mắt vị quan tam phẩm ánh lên niềm xúc động sâu sắc lẫn lòng kính phục khôn nguôi. Ngài thở dài một tiếng, cẩn trọng thu lại hộp gấm tiên đan, rồi đích thân rảo bước xuống gò đất, vươn hai tay đỡ cụ Thược đứng dậy: — Cả đời thanh bạch, coi phú quý tựa mây trôi, lấy tấc đất bát cơm của trăm họ làm trọng. Tiền lão, phẩm cách của lão quả thực khiến bậc sĩ phu trong triều cũng phải hổ thẹn. Bản đài y theo thỉnh cầu của lão!

Dứt lời, Bạch Trực Tiên xoay người, mở tiếp một đạo công văn mang dấu triện đỏ thắm của Ngự Sử Đài, dõng dạc tuyên đọc trước toàn thể quan dân: — Chiếu theo Cửu Tiêu Luật Điển và sổ sách điều tra địa bạ, triều đình chính thức giải trừ mọi oan khuất cho gia tộc họ Điền bị hào tộc bức hại năm xưa! Nay phong thưởng thư lại Điền Tố vì có công lớn phò trợ phá đại án, trắc lượng phân minh, chính thức bổ nhiệm chức Điển lại Ty Điền Lược huyện Thanh Khê, kế tục công việc quản lý địa hạt!

Điền Tố đứng bên cạnh bàng hoàng như trong giấc mộng. Chàng thư sinh hai mươi bốn tuổi nghẹn ngào quỳ sụp xuống thềm cỏ, hai vai run lên vì xúc động: — Khởi bẩm Khâm sai đại nhân, tiểu lại xin tạ ơn triều đình anh minh! Tạ ơn sư phụ tái sinh ơn đức!

Sau nghi lễ trang trọng bên bờ đê, đoàn người cùng trở về Ty Điền Lược huyện Thanh Khê. Tòa tàng thư quán từng bị nha sai phóng hỏa nay đã được dựng lại khang trang, vững chãi từ ba trăm lượng bạc công quỹ trích từ gia sản tịch thu của Cố thị. Mùi gỗ mới thơm nồng hòa quyện cùng mùi giấy bổi và mực tàu quen thuộc, khiến gian phòng ngập tràn sinh khí quang minh.

Trước sự chứng kiến của Khâm sai và bách tính tề tựu chật kín công đường, Tiền Đình Thược bước đến bên án thư gỗ bách. Cụ cẩn trọng tháo chiếc ống đồng đựng thước cuộn dây đồng bên hông thắt lưng, rồi rút tấm Thẻ Ngà Kiểm Điền ngự tứ đã gắn bó suốt tám mươi năm cuộc đời. Mặt ngà bóng mịn qua năm tháng, từng nét phù văn ngự tứ vẫn ánh lên sắc kim quang trầm mặc.

Cụ Thược hai tay nâng thẻ ngà, trang trọng trao vào lòng bàn tay Điền Tố. Đôi tay già nua chai sần siết nhẹ lấy mu bàn tay người học trò trẻ tuổi, giọng cụ trầm ấm mà thiết tha: — Điền Tố, con cầm lấy. Thẻ ngà này tiên đế ngự tứ cho Ty Điền Lược tám mươi năm trước, không phải ban cho uy quyền hay tước vị, mà là trao gửi sự chuẩn xác tuyệt đối của lương tri. Con phải luôn nhớ, mỗi tấc đất trên địa bạ là mồ hôi, nước mắt và cả sinh mệnh của hàng vạn phàm nhân. Dẫu mai này có gặp phải uy quyền sấm sét hay linh áp tu sĩ ngập trời, ngọn bút và thước dây của con cũng phải giữ cho thật ngay thẳng. Một phân không được thêm, một tấc không được bớt!

Điền Tố rưng rưng đón lấy thẻ ngà và ống thước đồng, ôm chặt vào ngực rồi sụp lạy ba lạy trước mặt cụ Thược: — Lời sư phụ dạy, con xin tạc dạ ghi lòng, trọn đời không dám phụ sự ủy thác của trăm họ!Tiếng vỗ tay và reo hò của dân làng lại một lần nữa vang dội khắp công đường Ty Điền Lược, xua tan hoàn toàn những bóng ma u tối của bẫy nợ hào tộc bao tháng ngày qua.

Thời gian thấm thoắt trôi qua. Mấy tháng sau, tiết trời sang thu mát dịu.

Dưới chân dãy núi Thúy Vi sừng sững, năm vạn mẫu dân điền bên bờ sông Linh Tuyền đã hồi sinh rực rỡ đến ngỡ ngàng. Không còn dấu vết của linh sát u ám, dòng nước ngọt mát lành từ lòng sông tự nhiên đã bồi đắp lớp phù sa màu mỡ, nuôi dưỡng từng nhánh lúa vươn mình trổ bông. Cả một vùng đồng bằng bao la biến thành biển vàng nhấp nhô, những bông lúa trĩu hạt uốn cong duyên dáng, tỏa ra hương cốm thơm ngạt ngào theo từng cơn gió sớm.

Từ sáng tinh mơ, đường làng đã rộn rã tiếng bước chân và tiếng cười nói huyên náo. Bà Ba Khương khăn áo chỉnh tề, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt sạm nắng phong trần. Phía sau bà, hàng chục nông dân xóm Đông và xóm Nam hồ hởi gánh những thúng xôi nếp mới dẻo thơm nghi ngút khói, cùng hoa trái tươi ngon đầu mùa tiến về phía gian nhà tranh mộc mạc nép mình bên rặng tre già.

— Cụ Thược ơi! Bà con gặt mẻ lúa đầu tiên, chúng con đem xôi mới sang biếu cụ đây này! — Bà Ba Khương vừa bước vào cổng ngõ đã cất tiếng reo vui.

Cụ Thược thong thả từ trong nhà bước ra hiên. Cụ mặc chiếc áo chàm quen thuộc, nụ cười hiền hậu nở trên gương mặt phúc hậu với chòm râu bạc như cước. Cụ bước xuống thềm, đưa hai tay đón lấy đĩa xôi mới thơm phức từ người phụ nữ dũng cảm, ánh mắt lấp lánh niềm vui khôn tả: — Bà con xóm giềng có lòng, lão già này xin nhận. Được mùa là nhờ công sức, mồ hôi của mọi người cả đấy. Thóc gạo đầy bồ rồi, từ nay xóm giềng ta không còn ai phải chịu cảnh cơ hàn, nợ nần nữa!

Bên chiếc bàn tre mộc mạc đặt dưới bóng mát giàn hoa thiên lý, Điền Tố cung kính châm một tuần trà mới. Chàng thư lại trẻ tuổi nay đã đĩnh đạc trong phẩm phục Ty Điền Lược, bên hông đeo chiếc ống đồng và Thẻ Ngà Kiểm Điền lấp lánh, mỉm cười nâng chén dâng lên ân sư: — Thưa sư phụ, trà xuân năm nay hái từ ngọn Thúy Vi, pha cùng nước nguồn sông Linh Tuyền ngọt mát, mời người dùng trà.

Cụ Thược nâng chén trà xuân, nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát thanh tao rồi ngọt hậu đọng lại nơi đầu lưỡi, xua tan mọi mỏi mệt của năm tháng thăng trầm. Cụ phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn biển lúa vàng rực rỡ trải dài tít tắp, lắng nghe tiếng cười rộn rã của lũ trẻ con nô đùa trên đường làng và ngắm nhìn từng làn khói bếp lam chiều bình yên vấn vít bay lên từ những mái nhà tranh.

Ánh hoàng hôn ấm áp phủ vàng trên tà áo chàm của cụ Thược, tiếng chuông đồng bảng lảng trôi trên dòng Linh Tuyền êm ả, chứng kiến bản trường ca công lý và tình người phàm trần đã đâm chồi nở hoa vĩnh cửu.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.