Chương 22: Tán Dù Che Gió Núi

Gió đại ngàn thổi thốc qua vách đá cheo leo, cuốn theo những đám mây trắng xốp là đà ngang tầm mắt. Cụ Võ Thiệu Trực đứng bên giàn phơi nứa trước quán, chòm râu bạc dài chấm ngực khẽ lay động theo từng đợt gió rét. Đôi mắt màu nước sông sớm mai của cụ nhìn đăm đắm xuống con đường dốc quanh co nơi chân đèo xa tít tắp.

Nơi ấy, hai vệt vàng nghệ ấm áp của những tán dù dầu trẩu vừa bung nở rực rỡ dưới nắng trưa, rồi chầm chậm khuất hẳn sau khúc quanh rậm rạp bóng cây rừng. Cụ khẽ nâng tay áo vải nâu sồng, mỉm cười nhẹ nhõm. Tinh thần của Liễu Nhục Dù Nan mà cụ giữ gìn trọn sáu mươi năm qua rốt cuộc đã không bị chôn vùi trong tro tàn thù hận. Nan tròn hóa thẳng, lấy nhu dưỡng khí—những đạo lý ấy giờ đây đã theo chân hai người trẻ bước vào chốn bụi hồng, hóa thành chiếc dù che chở gió mưa cho những kiếp người lầm than.

Nắng trưa dần ngả sang chiều. Cụ Trực vừa quay lưng định bước vào hiên thì dưới dốc Cổng Trời bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã cùng tiếng th* d*c dồn dập.

Một tráng đinh trạc ngoài ba mươi tuổi, lưng khoác áo dạ xanh thêu viền mây của Liên minh chính phái tây bắc, tay ôm chiếc hộp gỗ sơn son thếp vàng, đang cắm cúi trèo lên con dốc đá. Trông thấy cụ Trực, người ấy vội vàng chỉnh đốn vạt áo, bước nhanh tới trước thềm quán rồi sụp gối vái dài “Vãn bối phụng mệnh các vị chưởng môn và thương hội trong liên minh, kính cẩn trèo đèo lên tạ ơn Lạc Vân Đại Hiệp!”

Cụ Trực mỉm cười xua tay, cất giọng trầm ấm “Đường đèo dốc đứng gió buốt, tráng sĩ vất vả rồi. Mau đứng lên, vào quán uống chén nước vối cho ấm dạ.”

Vị sứ giả đứng dậy, hai tay nâng chiếc hộp gỗ dâng lên ngang mày, vẻ mặt cung kính khôn xiết “Thưa tiền bối, vãn bối mang theo phong thư cảm tạ của liên minh cùng tin tức từ trấn Vân Khẩu. Chiếc dù giấy dầu màu vàng nghệ ba mươi hai nan mà lão nhân gia gửi tặng hôm trước, nay đã được chư vị chưởng môn cùng các hội buôn cung nghinh đặt ngay tại đại sảnh Vân Khẩu. Liên minh lấy chiếc dù làm biểu tượng tối cao cho sự hòa giải, che chở và giữ gìn trật tự thương lộ tây bắc. Chư vị trưởng lão đồng lòng thỉnh cầu lão nhân gia tiếp nhận danh vị Tổng chưởng môn danh dự của liên minh, đứng đầu dẫn dắt võ lâm biên ải.”

Cụ Trực đỡ vị sứ giả dậy, mời ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc cạnh khung cửa sổ, rồi rót một bát nước vối nóng hổi nghi ngút khói đẩy sang trước mặt người kia. Cụ lắc đầu từ tốn “Lão chỉ là một kẻ già nua chín mươi lăm tuổi nương nhờ vách đá mưu sinh qua ngày, sớm tối làm bạn với tre nứa dầu trẩu, nào màng chi hư danh chốn võ lâm. Chiếc dù kia nếu có thể nhắc nhở người đời bớt vung đao chém giết, biết mở lòng chở che kẻ yếu thế qua cơn bão bùng, ấy là phúc phận lớn nhất của nó rồi. Danh hiệu Lạc Vân Đại Hiệp hay chức chưởng môn, lão xin khước từ. Tráng sĩ hãy mang lời này về thưa lại với liên minh, bảo chư vị dốc lòng giữ lấy cái tâm trong sáng vì bá tánh, thế là đủ.”

Sứ giả nhìn đôi mắt sáng trong thăm thẳm và thần thái an nhiên như mây trôi nước chảy của cụ già, trong lòng trào dâng niềm kính ngưỡng khôn cùng. Người ấy uống cạn bát nước ấm, cúi đầu bái tạ rồi cẩn thận cất lại phong thư, từ biệt quay gót xuống núi.

Tiễn khách xong xuôi, bóng chiều tà bắt đầu nhuộm đỏ những rặng thông già nơi triền dốc. Cụ Trực quay vào góc bếp, cẩn thận lấy ra một bọc trà búp sao khô thơm ngát cùng một chiếc dù vải dầu trẩu vừa hoàn tất ban sáng. Thân dù bằng trúc vầu óng ả, mép vải dù bồi lớp dầu trẩu khô mịn, bóng láng như ngọc.

Cụ Trực cắp chiếc dù bên sườn, men theo bờ đá rêu phong bước sang gian nhà tranh của bà Lê cách quán chừng vài chục sải chân.

Gian nhà nhỏ khép hờ phên nứa, làn khói lam chiều bảng lảng tỏa ra từ mái rạ. Nghe tiếng bước chân gõ nhẹ trên đá, bà Lê từ trong bếp chống gậy tre bước ra, đôi mắt già nua hấp háy cười “Kìa ông Trực! Gió núi bắt đầu trở lạnh rồi, ông còn cất công sang đây làm gì thế?”Cụ Trực bước tới đặt bọc trà lên chiếc chõng tre trước sân, trao chiếc dù dầu sang tay bà cụ láng giềng “Mấy hôm trước nhờ có bà sang giúp nắm lá ngải cứu rừng, gừng núi đắp vết thương cho hai đứa trẻ, chúng nó mới lành lặn mà xuống núi bình an. Nay lão mang biếu bà gói trà búp nấu nước uống cho ấm cổ, với chiếc dù vải dầu này để bà đi rừng hái nấm, đào củ mài che mưa che tuyết.”

Bà Lê đón lấy chiếc dù, bàn tay nhăn nheo run run xoa nhẹ lên lớp vải dầu thơm nồng, cười móm mém “Ông khách sáo quá! Chòm xóm bên sườn đèo nương tựa nhau bao năm qua, có sá chi chút lá thuốc bờ rừng. Mà hai đứa trẻ đi rồi, ông ở lại một mình trên đỉnh đèo này cũng đỡ phần vướng bận tai ương gươm giáo.”

Hai người già ngồi bên chiếc chõng tre, nhấp chén nước chè xanh nghi ngút khói, chuyện trò đôi câu về mùa măng vầu sắp tới, về những cơn gió bấc hung dữ đã qua và hơi ấm đang dần trở lại với non ngàn. Giữa chốn biên cương heo hút, chút nghĩa tình mộc mạc ấy tựa như đốm than hồng xua tan đi tất cả giá buốt của mùa đông.

Khi ráng chiều tắt hẳn, cụ Trực thong thả trở về quán nhỏ.

Gió bấc bắt đầu rít từng hồi qua khe núi, mang theo những bông tuyết đầu mùa lất phất bay trắng xóa trước hiên. Cụ khép bớt cánh liếp chắn gió, rồi ngồi xuống bậu cửa thân thuộc. Cụ gạt tàn than cũ, bỏ thêm mấy khúc củi nghiến khô vào lò đất nện. Ngọn lửa bập bùng bốc lên, l**m quanh đáy chiếc nồi gang nhỏ đựng dầu trẩu mới. Mùi dầu trẩu ngai ngái, nồng ấm quen thuộc nhanh chóng lan tỏa khắp gian phòng tĩnh mịch.

Cụ Trực cầm thanh dao thép sờn bóng cán gỗ cúc ba cánh, với lấy một đoạn trúc vầu bánh tẻ. Từng nhát dao đưa đi ngọt sớt, dăm trúc mỏng manh rơi lả tả xuống nền đất. Bốn mươi năm dằn vặt vì vết thương lòng từ kẻ nghịch đồ Thẩm Uyên Kình, đến nay rốt cuộc đã theo lớp tuyết tan mà trôi đi sạch bóng. Tà tâm đã bị chế ngự, kẻ thủ ác chịu án lưu đày nơi ải xa, còn công lý và lòng thiện lương đã đơm hoa kết trái. Lòng cụ lúc này nhẹ bẫng, tĩnh lặng tựa mặt hồ mùa thu không một gợn sóng.

Bỗng nhiên, từ ngoài con đường đèo vang lên tiếng bước chân bì bõm giẫm trên nền tuyết lạnh, kèm theo những tiếng thở hổn hển ngập ngừng.

“Có ai trong quán không… Cho chúng tôi xin vào trú nhờ cơn tuyết buốt với…”

Tiếng gọi run rẩy của một người đàn ông cất lên ngoài rào nứa. Cụ Trực ngẩng đầu nhìn qua khe cửa liếp. Dưới màn tuyết mịt mùng, một đoàn phu gánh nghèo chừng bốn, năm người, lưng cõng những sọt củ mài và mây rừng nặng trĩu, áo tơi rách bươm không đủ che tấm lưng trần tím tái vì lạnh, đang co ro đứng co cụm bên bờ đá.

Cụ Trực khẽ mỉm cười bao dung. Bỏ thanh dao vót nan xuống chiếc nong tre, cụ đứng dậy, sải những bước chân vững chãi bước ra ngạch cửa.

Đẩy rộng cánh liếp tre, cụ giương cao chiếc dù dầu trẩu màu vàng nghệ trong tay, bước hẳn ra thềm đá đón gió tuyết. Tán dù xòe rộng tròn trịa, che chắn làn mưa tuyết đang quất rát mặt, cụ cất tiếng hào sảng “Bà con mau vào đây! Lò than đang đượm, dầu trẩu đang sôi, mau vào sưởi ấm kẻo cảm lạnh!”

Những người phu gánh mừng rỡ reo lên, vội vã rảo bước nép mình dưới bóng chiếc dù vàng nghệ rồi ùa vào gian nhà tranh ấm áp.

Bếp than đượm ánh hồng sưởi ấm gian nhà tranh, ngoài hiên đèo gió tuyết ngút ngàn, tiếng vót nan lách cách của cụ già chín mươi lăm tuổi hòa vào đại ngàn muôn thuở.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.