Chương 27: Hỷ Sự Công đường
Tiếng pháo hoa râm ran từ phía phố xá Thường An dội về bờ sông Lạc Lũy như một lời nhắc nhở dịu dàng rằng đêm hội lớn của toàn huyện đã cận kề.
Triệu Vấn Chu khẽ nới lỏng vòng tay, nhưng vẫn để những ngón tay ấm áp của mình đan chặt vào bàn tay thon dài có những vết chai mỏng nơi lòng bàn tay của Lý Hoài Trinh. Gió thu mơn man thổi qua tàng cây bàng cổ thụ, lay động những phiến lá xanh thẫm soi bóng xuống làn nước biếc. Nàng nép bên chàng, gương mặt ửng hồng dưới ánh ráng chiều đã dần nhường chỗ cho vầng trăng rằm bàng bạc, nơi khóe mắt vẫn còn đọng lại ngấn lệ của niềm hạnh phúc ngập tràn sau lời hẹn ước kết tóc se duyên.
“Triệu huynh, chúng ta nên trở về thôi.” Hoài Trinh khẽ cất lời, thanh âm trong trẻo như tiếng suối reo giữa rừng mai, chứa chan sự e ấp dịu dàng mà thường ngày hiếm khi để lộ trước chốn công đường nghiêm cấm. “Nghiêm sư gia cùng mọi người ở nha môn hẳn đang sốt ruột ngóng đợi. Ngày mai là đại lễ, biết bao nhiêu việc tế toái đều trông cậy vào sự định đoạt của huynh.”
Triệu Vấn Chu mỉm cười, ánh mắt chan chứa sự cưng chiều vô bờ. Chàng nâng bàn tay nàng lên ngang ngực, cảm nhận rõ rệt hơi ấm từ miếng ngọc bội song ngư “Đồng Tâm” mà nàng đang cẩn trọng nắm giữ “Được, chúng ta cùng về.”
Hai người sóng bước bên nhau men theo con đường mòn ven sông trở lại huyện thành. Đi đến đâu, Vấn Chu cũng cảm nhận được hơi thở tươi mới đang cuộn trào trên mảnh đất từng một thời chìm trong u tối và chết chóc này. Trên mặt đê mới đắp, những đụn muối sạch trắng ngần của Diêm Công Nghiệp Đoàn được phủ bạt cẩn thận, tỏa ra hương vị mặn mòi tinh khiết của biển trời. Phía xa xa, hơn ba ngàn mẫu công điền từng bị hào tộc chiếm đoạt nay đã phủ một màu mạ non mơn mởn, hứa hẹn một mùa gặt bội thu no ấm.
Khi bóng dáng hai người vừa hiện ra nơi cửa Nam huyện thành, cảnh tượng rực rỡ trước mắt khiến cả Vấn Chu lẫn Hoài Trinh không khỏi ngỡ ngàng dừng bước.
Khắp các ngả đường dẫn vào trung tâm huyện nha, từ đầu phố Đông sang cuối phố Tây, hàng ngàn chiếc đèn lồng đỏ thắm hình hoa sen và chữ song hỷ đã được treo cao trên những cành liễu rủ và mái ngói rêu phong. Trướng gấm điều đỏ rực giăng ngang qua các ngõ phố, phản chiếu ánh sáng bập bùng từ muôn ngọn đuốc hoa, thắp sáng rực rỡ cả bầu trời biên ải. Bách tính từ khắp các thôn làng xa xôi — từ làng Thẩm Gia vừa dứt cơn bạo bệnh, từ các xóm thợ mỏ dưới chân núi Hắc Hổ, cho đến những tá điền nghèo vừa được chia ruộng đất dọc bờ Lạc Lũy — đều tấp nập đổ về, trên tay mang theo những món quà mọn cây nhà lá vườn.
Người mang theo giỏ trứng gà bọc rơm vàng, người gánh đôi quả bưởi mọng nước vừa hái nơi sườn đồi, kẻ lại nâng niu chiếc bình gốm đựng mẻ rượu nếp cái hoa vàng ủ kỹ qua ba mùa trăng. Tiếng cười nói rộn rã, tiếng trẻ con nô đùa hòa cùng tiếng chiêng trống gióng lên từng hồi hân hoan, làm bừng sáng cả một góc trời biên ải vốn quạnh quẽ tiêu điều suốt mấy mươi năm qua.
“Triệu Thanh Thiên đã về rồi!”
Một tiếng reo vui từ đám đông vang lên, kéo theo hàng trăm ánh mắt ngưỡng mộ và nụ cười rạng rỡ đồng loạt hướng về phía hai người. Những người nông dân lam lũ, những phu muối với bờ vai hãy còn vết hằn của đòn roi quá khứ, nay đứng thẳng lưng, trân trọng chắp tay cúi chào vị Huyện lệnh trẻ tuổi và vị nữ Bổ đầu đã đem lại ánh sáng công lý cho cuộc đời họ.
Triệu Vấn Chu xúc động chắp tay đáp lễ bách tính. Trong lồng ngực chàng, một luồng nhiệt khí ấm áp lan tỏa khắp tứ chi. Không cần đến bất kỳ sự nhắc nhở vô hình nào, chàng hiểu rằng sự tin yêu và bình yên trên gương mặt của muôn dân nghèo chính là phần thưởng vô giá nhất mà một kẻ làm quan có thể đón nhận.
Sáng hôm sau, khi ánh bình minh vừa ló rạng xua tan màn sương sớm bảng lảng trên đỉnh Hắc Phong Lĩnh, nha môn Thường An đã mở toang đại môn đón chào ngày đại hỷ chưa từng có trong lịch sử huyện thành.
Chốn công đường ngày thường tôn nghiêm, trầm mặc với bảng gỗ “Hồi Tỵ”, “Túc Tĩnh” và những hàng gậy trượng uy nghiêm, nay đã được khoác lên mình diện mạo hoàn toàn mới. Tấm biển lớn “Chính Đại Quang Minh” treo trên cao được lau chùi sáng bóng, viền lụa đỏ thắm buông rủ hai bên. Giữa chính đường, đôi nến long phụng to bằng bắp tay cháy sáng rực rỡ, tỏa ra mùi hương trầm ngan ngát, xua tan đi vẻ lạnh lẽo của gạch đá rêu phong.
Nghiêm Kính Chi hôm nay khoác trên mình bộ phẩm phục Điển sử chánh bát phẩm tề chỉnh màu xanh lục đậm mà triều đình vừa ban thưởng. Chiếc lưng hơi khòm của vị cử nhân lận đận chốn mạc liêu nay đã thẳng tắp, thần sắc rạng rỡ, đôi mắt thâm quầng năm nào giờ đây sáng ngời sự tự tin và đĩnh đạc của một vị quan trông coi Hộ phòng và Lại phòng. Trên tay ông không còn là cuốn sổ bìa xám che giấu những món nợ máu năm xưa, mà là bản hôn thư đỏ thắm viết bằng mực chu sa lấp lánh kim nhũ.
“Kê minh báo hỷ, cát nhật lương thần!”
Nghiêm Kính Chi đứng trước bậc thềm đá hoa cương, cất lời rành rẽ, thanh âm trang trọng vang vọng khắp sân nha môn “Hôm nay, ngày lành tháng tốt, dưới sự chứng giám của trời đất non sông và sự chuẩn tấu của triều đình Đại Ung, nha môn Thường An mở tiệc nghênh hôn. Chúc cho tân lang Triệu đại nhân cùng tân nương Lý tiểu thư bách niên giai lão, loan phụng hòa minh!”
Dưới sân, hơn năm mươi tân binh dân binh cùng đội tráng đinh do Trương Cương và Vương Hưng dẫn đầu đồng loạt vỗ tay rền vang. Những phu muối từng bị giam cầm nơi ngục tối Hắc Hổ cốc nay áo quần tề chỉnh, gương mặt hồng hào khỏe mạnh, cùng nhau nâng những bát rượu lớn sóng sánh men cay. Tiếng cười nói, tiếng cụng chén giòn giã hòa quyện tạo nên một bầu không khí hào sảng, gắn kết keo sơn giữa quan và dân, xóa nhòa mọi khoảng cách tôn ti hà khắc thường thấy chốn quan trường phong kiến.
Trương Cương bưng một khay đồng đựng những chén rượu nếp thơm lừng bước tới trước mặt Triệu Vấn Chu, đôi mắt người lính trẻ hoe đỏ vì xúc động “Đại nhân! Thuộc hạ và các huynh đệ kính người một chén! Nếu không có người và Lý bổ đầu lấy thân mình che chắn trước mũi tên mũi đao của lũ giặc cướp và tham quan, bọn thuộc hạ làm sao có được ngày hôm nay đứng giữa thanh thiên bạch nhật mà ngẩng cao đầu!”
Triệu Vấn Chu mỉm cười đón lấy chén rượu, khẽ gật đầu với chàng trai trẻ “Trương Cương, chén rượu này bản quan cùng các ngươi uống cạn. Giang sơn này, mảnh đất Thường An này có thể bình yên đứng vững là nhờ vào dòng máu nóng và sự kiên trung của các tráng sĩ như các ngươi. Từ nay về sau, giữ nghiêm phép nước, bảo bọc lương dân, đó mới là đạo phụng sự lớn nhất.”
Chàng ngửa cổ uống cạn chén rượu nồng, vị cay xè nơi đầu lưỡi hóa thành một dòng ấm áp lan tỏa khắp kinh mạch.
Đúng lúc ấy, ba hồi trống ngọc điểm vang từ phía nội đường báo hiệu giờ lành đã đến. Đám đông bách tính đang đứng chật ních ngoài cổng nha môn lập tức trật tự dạt sang hai bên, nhường lối cho lễ rước dâu bước vào chính điện.
Khâm sai Đề Hình Án Sát Sứ Triệu Kế Tuyên trong bộ quan phục tam phẩm thêu chim công rực rỡ, nét mặt phương phi phúc hậu, chậm rãi bước vào ngồi ở chiếc ghế bọc gấm đặt nơi vị trí tôn quý nhất của công đường. Bên cạnh ông, chiếc án thư thường ngày dùng để xét xử phạm nhân nay được phủ khăn gấm điều, đặt trang trọng chiếc ngọc bài “Khâm Mạng Toàn Quyền” và thanh Thượng Phương Bảo Kiếm lấp lánh ánh kim khí. Sự hiện diện của vị đại thần đại diện cho Hoàng đế Đại Ung chính là minh chứng tối cao cho sự chuẩn nhận của triều đình đối với mối lương duyên này.
Từ phía hành lang phía đông, Triệu Vấn Chu sải bước tiến ra. Chàng khoác trên mình bộ hôn phục đỏ thắm thêu hoa văn mây lành bằng chỉ vàng tinh tế. Chiếc đai lưng nạm ngọc tôn lên vóc dáng cao ráo, thanh mảnh nhưng ngập tràn khí phách hiên ngang. Gương mặt tuấn tú, đôi mày kiếm sắc bén cùng ánh mắt điềm đạm, cương nghị toát lên phong thái của một bậc kỳ tài kinh bang tế thế, khiến hàng ngàn bách tính trầm trồ thán phục.
Và rồi, từ phía cửa ngách tây đường, tân nương Lý Hoài Trinh chậm rãi bước vào.
Hàng ngàn ánh mắt đều đổ dồn về phía nàng, không khỏi ngỡ ngàng nín thở. Nàng không đội khăn trùm đầu màu đỏ che khuất dung nhan theo lệ thường, mà để lộ trọn vẹn gương mặt thanh tú, đoan trang rạng rỡ dưới chiếc mũ phượng dát vàng khảm ngọc châu lấp lánh. Bộ giá y màu đỏ thắm thêu hình chim phượng hoàng tung cánh ôm lấy thân hình khỏe khoắn, uyển chuyển của người con gái nhà tướng. Đôi mày ngài mắt phượng sắc sảo ngày nào nơi trận mạc giờ đây đượm vẻ dịu dàng, e ấp nhưng vẫn không làm mất đi khí chất hào sảng, kiên cường vốn có.
Đặc biệt nhất, nơi hông nàng không đeo những dải ngọc bội buông rủ rườm rà, mà hai tay nàng đang trân trọng nâng một vật phẩm quen thuộc: thanh trường đao gia truyền “Trảm Lạc” bọc trong vỏ da cá mập đen tuyền.
Hoài Trinh bước từng bước vững chãi qua thềm đá, tiến thẳng về phía án thư công đường. Nàng dừng lại trước mặt Triệu Vấn Chu, ánh mắt hai người giao nhau, thấu suốt vạn lời không cần nói thành tiếng. Trước sự chứng kiến của Khâm sai triều đình và toàn thể bách tính, nàng cung kính đặt thanh bảo đao Trảm Lạc nằm ngay ngắn bên cạnh chiếc hộp đựng quan ấn Thường An và tấm Kim bài Khâm Sai Tuần Án.
Đao tra vào vỏ, cung nỏ xếp lại, báo hiệu thời kỳ can qua máu lửa đã khép lại, nhường chỗ cho trật tự và sự sống sinh sôi.
Triệu Kế Tuyên vuốt chòm râu bạc, mỉm cười gật đầu đầy tán thưởng “Lấy bảo đao định giang sơn, lấy pháp luật an thiên hạ! Trảm Lạc đao của Lý gia đời đời bảo vệ biên cương, nay đặt cạnh quan ấn của Triệu Tri huyện, quả là trời đất tác thành, trăm họ được nhờ!”
Nghiêm Kính Chi bước lên một bước, giương cao bản hôn thư, xướng lớn bằng chất giọng trang nghiêm, đĩnh đạc “Giờ lành đã điểm, tân lang tân nương tề tựu, bái đường thành thân! Nhất bái thiên địa!”
Triệu Vấn Chu nắm lấy dải lụa đỏ thắt hoa đồng tâm, cùng Lý Hoài Trinh quay người hướng ra cửa lớn nha môn, nơi đất trời Thường An lồng lộng gió núi và ánh nắng thu vàng rực rỡ, đồng lòng cúi mình vái tạ trời đất đã che chở cho họ đi qua bao giông bão thác ghềnh.
“Nhị bái cao đường!”Hai người quay lại chính điện, hướng về phía bài vị của cố Phó tướng Lý Trọng Khiêm được đặt trang trọng trên bàn thờ hoa quả. Hoài Trinh khẽ cắn môi, giọt lệ xúc động lăn dài trên má khi nhớ về nỗi oan khiên đằng đẵng năm năm trời của phụ thân nay đã được rửa sạch bằng sắc phong Trung Dũng Hầu của triều đình. Vấn Chu siết nhẹ dải lụa trong tay, như một lời cam kết thầm lặng rằng từ nay về sau, danh dự và sự bình yên của gia tộc nàng sẽ luôn có chàng chở che, gánh vác. Cả hai cùng quỳ rạp xuống chiếu hoa, dập đầu ba lạy tạ ơn công đức sinh thành và sự hy sinh cao cả của người đi trước.
“Phu thê giao bái!”
Tiếng xướng của Nghiêm Kính Chi vừa dứt, Vấn Chu và Hoài Trinh xoay người đối diện nhau. Khoảng cách chưa đầy ba thước, chàng nhìn sâu vào đôi mắt phượng long lanh ngấn nước của người con gái đã từng vì chàng mà chắn tên độc, từng cùng chàng vào sinh ra tử nơi hang sâu lũy đá. Cả hai cùng cúi đầu thật sâu, một cái lạy kết tóc se duyên, gửi gắm trọn vẹn sinh mệnh, lý tưởng và tương lai vào tay đối phương.
Vương Hưng bưng khay bạc tiến lên, dâng hai chiếc chén ngọc chạm khắc hoa văn hoa đào tinh xảo, bên trong sóng sánh thứ rượu giao bôi được kết nối bằng một sợi chỉ tơ hồng bền chặt.
Vấn Chu nâng chén rượu, nhìn nàng bằng ánh mắt ngập tràn chân tình “Hoài Trinh, chén rượu này uống cạn, đời này kiếp này ta và nàng chung một nhịp thở. Ta nguyện đem tấm thân này phụng sự muôn dân, và dành trọn trái tim này để yêu thương, che chở cho nàng đến đầu bạc răng long.”
Hoài Trinh mỉm cười rạng rỡ giữa những giọt nước mắt hạnh phúc, nâng chén rượu đối ẩm “Chàng vì nước vì dân, thiếp nguyện làm cánh tay đắc lực, làm hậu phương vững chắc trọn đời cùng chàng gánh vác non sông. Sinh tử không rời, đồng tâm bất biến!”
Hai cánh tay đan chéo vào nhau. Giọt rượu nồng ấm trôi qua cổ họng, hòa quyện hương thơm ngọt ngào của hạnh phúc lứa đôi và men say của ngày đại thắng.
Ngay khoảnh khắc ấy, tiếng hoan hô chúc phúc từ hàng ngàn bách tính ngoài sân nha môn đồng loạt bùng nổ như sấm dậy “Chúc mừng Triệu đại nhân! Chúc mừng Lý Huyện Quân!”
“Trăm năm hòa hợp! Phúc trạch vạn niên!”
Tiếng pháo nổ giòn giã vang lên từ khắp các góc sân, xác pháo đỏ rải đầy thềm đá như những cánh hoa đào mùa xuân rơi rụng, nhuộm thắm cả không gian công đường trong niềm hân hoan tột cùng.
Tiệc rượu mừng kéo dài suốt từ trưa đến tận khi hoàng hôn buông xuống. Khâm sai Triệu Kế Tuyên cùng các bô lão trong huyện nâng chén chúc tụng, tiếng cười nói râm ran không dứt. Triệu Vấn Chu chu đáo đến từng bàn tiệc, ân cần thăm hỏi từng người già, chúc rượu những người lính trẻ và các phu muối vừa hoàn lương. Không có sự xa cách giữa quan và dân, chỉ có tình cảm chân thành của những con người đã cùng nhau đi qua cơn bĩ cực để đón ngày thái lai.
Khi màn đêm hoàn toàn bao phủ núi rừng biên ải, vầng trăng rằm tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc khổng lồ từ từ nhô lên khỏi đỉnh Hắc Phong Lĩnh, tỏa ánh sáng dịu mát, vằng vặc xuống khắp nhân gian.
Triệu Vấn Chu khẽ tách khỏi đám đông đang say sưa bên men rượu, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay mềm mại của Hoài Trinh “Nàng mệt rồi chứ? Cùng ta lên vọng lầu một lát.”
Hoài Trinh khẽ gật đầu, ánh mắt lấp lánh niềm vui. Nàng tháo bớt chiếc mũ phượng dát vàng nặng trĩu, chỉ cài chiếc trâm ngọc bích đơn sơ, cùng chàng sánh bước rời khỏi sự ồn ào của yến tiệc, chậm rãi men theo những bậc thang đá rêu phong bước lên vọng lầu cao nhất của cổng Nam thành cổ.
Đây chính là nơi chỉ cách đây không lâu, một ngàn thiết kỵ Thương Châu từng bao vây nghẹt thở, nơi cỗ chiến xa phá thành hung hãn từng lao thẳng vào then cửa gỗ lim, và cũng là nơi Vấn Chu từng giương cao mật thư vạch trần tội ác của lũ tham quan trước vạn quân sĩ. Giờ đây, những vết chém của gươm giáo trên lan can đá đã được phủ một lớp vôi mới, không khí nồng nặc mùi khói lửa dầu cháy ngày nào đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho làn gió đêm thu mát rượi mang theo hương thơm ngào ngạt của lúa mới và hoa cỏ đồng nội.
Vừa bước l*n đ*nh lầu, đúng khoảnh khắc ấy, một tiếng rít dài xé toạc màn đêm tĩnh mịch.
“Vút... Đùng!”
Trên nền trời nhung đen thẫm, chùm pháo hoa đầu tiên bùng nổ, bung tỏa thành hàng ngàn đốm sáng lung linh màu vàng kim và đỏ thắm, rực rỡ như muôn đóa hoa đăng bay lượn giữa không trung. Rồi tiếp nối nhau, hàng chục, hàng trăm chùm pháo hoa đủ sắc màu đồng loạt thắp sáng cả bầu trời Thường An, phản chiếu xuống dòng sông Lạc Lũy lấp lánh như một dải ngân hà trần thế.
Dưới chân thành, trải dài tít tắp đến tận chân trời, hàng vạn ánh đèn dầu ấm áp tỏa ra từ từng khung cửa sổ của những mái nhà tranh. Không còn tiếng khóc than ai oán của những gia đình mất người thân vì muối độc, không còn cảnh tượng dân làng xơ xác ôm bụng bướu cổ thoi thóp bên giếng nước làng Thẩm Gia, cũng không còn bóng đen của những tên cường hào hống hách cưỡi ngựa đàn áp bần nông.
Chỉ có ánh sáng yên bình của những bếp lửa ấm, tiếng ru ầu ơ của người mẹ trẻ bên cánh võng, và tiếng cười giòn tan của trẻ thơ vọng lại theo làn gió đêm.
Hoài Trinh tựa đầu vào bờ vai vững chãi của Vấn Chu, đôi mắt phượng dõi theo những chùm pháo hoa đang tàn dần trên nền trời đêm, khẽ thầm thì “Triệu huynh... Huynh có nhớ ngày đầu tiên huynh bước chân vào nha môn Thường An không? Khi ấy, công đường dột nát, cỏ dại mọc đầy sân, sai nha thì trốn tránh, lòng dân thì oán hận nguội lạnh như tro tàn. Thiếp khi ấy còn nghĩ rằng, lại thêm một vị quan thư sinh trói gà không chặt đến đây để làm bù nhìn cho họ Tiêu xâu xé...”
Triệu Vấn Chu bật cười trầm thấp, bàn tay siết nhẹ bờ vai thon thả của người bạn đời “Lúc đó, nàng nhìn ta bằng ánh mắt lạnh như băng giá, tay thì không rời chuôi đao Trảm Lạc. Nhưng cũng chính ánh mắt kiên định, không chịu khuất phục trước cường quyền ấy đã cho ta niềm tin rằng, trên mảnh đất cằn cỗi này, chính khí vẫn chưa hề lụi tàn.”
Chàng nhìn xuống đôi bàn tay mình, rồi ngước nhìn vầng trăng rằm sáng trong không một gợn mây.
Trong sâu thẳm tâm thức, cuốn sách ngọc “Phụng Công Thủ Pháp” sau khi hoàn tất sứ mệnh đã lắng đọng thành một phần linh hồn, hòa quyện trọn vẹn vào tri thức, bản lĩnh và cốt cách của chàng. Những phép tắc khám nghiệm tỉ mỉ, sự suy xét cẩn trọng trước từng dấu vết vật chứng, phương pháp quản lý điền địa và chuỗi cung ứng... tất cả đã không còn là những dòng chữ vô hồn trên giao diện tinh thần, mà đã hóa thành dòng máu đang cuộn chảy trong tim.
Chàng đã hiểu sâu sắc rằng, pháp luật nghiêm minh nếu thiếu đi lòng trắc ẩn thì chỉ là thứ công cụ lạnh lùng xiềng xích con người; nhưng tình thương nếu không dựa trên nền tảng của sự công bằng và kỷ cương phép nước thì cũng chỉ là sự nhu nhược hão huyền.
Chính sự công minh không thiên vị, sự dũng cảm đối đầu với cái ác để bảo vệ kẻ yếu thế, cùng tấm lòng thiết tha vì ấm no của muôn dân mới là chìa khóa duy nhất mở ra cánh cửa thái bình thịnh trị cho muôn đời.
“Triệu huynh, ba năm tới chàng được lệnh lưu nhiệm làm Tri huyện Thường An kiêm Khâm Sai Tuần Án vùng biên ải. Con đường phía trước chắc chắn vẫn còn không ít gian nan, chốn quan trường kinh sư sóng ngầm khôn lường...” Hoài Trinh ngước nhìn chàng, trong mắt ánh lên niềm tin son sắt.
Triệu Vấn Chu quay sang nhìn nàng, ánh mắt sáng ngời, kiên định tựa như bàn thạch “Có nàng kề bên, có muôn dân đồng lòng, có thanh thiên trên đầu và công lý trong tim, Triệu Vấn Chu ta nào có sợ hãi điều chi? Dù phong ba bão táp ngoài biên ải hay sóng ngầm nơi cung cấm, thanh bảo đao của nàng và chiếc quan ấn của ta sẽ mãi là tấm khiên vững chắc nhất che chở cho mảnh đất này.”
Chàng khẽ đưa tay chạm vào miếng ngọc bội song ngư “Đồng Tâm” nơi ngực áo nàng, rồi nhẹ nhàng đặt lên trán nàng một nụ hôn nồng nàn, sâu lắng. Hoài Trinh nhắm mắt lại, nép chặt vào lồng ngực ấm áp của chàng, cảm nhận sự bình yên tuyệt đối mà suốt hai mươi ba năm qua nàng hằng tìm kiếm.
Dưới chân họ, dòng sông Lạc Lũy êm đềm cuộn sóng, mang phù sa màu mỡ và dòng nước ngọt lành tưới tắm cho những cánh đồng mạ non bạt ngàn. Xa hơn nữa, những ruộng muối trắng tinh khiết lấp lánh dưới ánh trăng như những thỏi ngọc quý của đất trời biên cương.
Gió thu lồng lộng thổi qua vọng lầu, lay động tà hôn phục đỏ thắm của đôi lứa đang quấn quýt bên nhau. Ánh trăng rằm vằng vặc soi sáng đôi bóng hình gắn kết sắt son trên vọng lầu thành cổ, khép lại trọn vẹn thiên truyện về vị quan thanh liêm giữa lòng dân bách tính Thường An.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
