Chương 19: Ánh Sáng Công Lý
Tiếng gõ kinh đường mộc rền vang như sấm dậy giữa chốn công môn. Theo lệnh truyền, hai nha dịch lực lưỡng lập tức bước tới, giật phăng chiếc mũ the gấm đính ngọc của Tống Bá Lợi ném xuống nền gạch hoa, lột bỏ tấm áo the hoa đắt tiền của gã. Chiếc gông gỗ lim nặng trịch nhanh chóng sập xuống, khóa chặt cổ tên phú hộ gian ác cùng tên cai thầu bến Cầu Hai.
Tống Bá Lợi run lẩy bẩy sụp lạy như tế sao, tiếng gào khóc van xin thảm thiết nghẹn ứ nơi cuống họng khi hai nha dịch thẳng tay lôi xềnh xệch cả hai tên xuống ngục tối phủ đường.
Trên án thư gỗ gụ, Đặng tri phủ chỉnh lại vạt áo, ánh mắt nghiêm nghị nhìn xuống đoàn người xóm vạn đang quỳ dưới thềm sảnh: — Tống Bá Lợi cậy giàu sang ức h**p dân nghèo, buôn bán độc dược trục lợi trên sinh mạng đồng loại, lại đang tâm sai người phóng hỏa hủy hoại sinh kế xóm chài, tội ác rành rành không thể dung thứ! Nay phủ đường nghiêm khắc tuyên xử: Tịch thu toàn bộ sản nghiệp, kho dầu cùng tiệm buôn Tống Ký ở bến Cầu Hai để sung công và đền bù thiệt hại. Trích ba mươi đồng bạc trắng từ tài sản bị kê biên bồi hoàn thuốc thang cho ba mươi sáu nóc chòi xóm Vạn, bồi thường thỏa đáng cho những nhà có con trẻ bị bỏng rát do thứ dầu giả độc hại!
Quan Tri phủ đưa mắt nhìn Khoa cùng chiếc liễn sành đựng dầu tràm nứa nguyên chất, giọng ngài ấm áp hẳn: — Kể từ hôm nay, bãi tràm Cồn Cát thuộc về toàn thể dân nghèo quanh đầm phá Tam Giang, tuyệt đối không kẻ nào được phép lũng đoạn, ép giá hay ngăn cấm bà con thu hái lá tràm mưu sinh!
Bác Bảy Chài xúc động dập đầu xuống nền gạch hoa: — Đa tạ quan lớn soi xét anh minh! Dân xóm Vạn Chòi muôn đời ghi tạc ơn đức của ngài!
Mạ Thược nép sát bên Khoa, hai hàng lệ rưng rưng lăn dài trên đôi gò má gầy guộc. Khoa ôm chặt liễn sành dầu ấm vào lòng, nghe từng nhịp tim dội lên rộn rã. Bao nhiêu uất ức, bao nhiêu đắng cay của những ngày đông rét mướt mót từng gùi lá đổi lấy bơ gạo mốc ba đồng trinh, cuối cùng đã được ánh sáng công lý quét sạch hoàn toàn.
Rời phủ đường Quảng Điền, con thuyền nan xuôi mái chèo đưa đoàn người trở về bến nước quê nhà. Những dải mây mù u ám của đợt bão phong hàn dường như đã tan biến tự lúc nào, nhường chỗ cho vạt nắng đông hanh vàng rải dài trên mặt nước Tam Giang biêng biếc sóng vỗ.
Khi mũi thuyền vừa chạm mép bến xóm Vạn Chòi, tiếng reo hò rộn rã đã bùng lên vang dội cả một góc trời. Hơn trăm con người từ ba mươi sáu nóc chòi túa ra mép nước đón mừng: — Trừ được mối họa Tống Ký rồi bà con ơi! — Quan lớn phạt vạ bọn gian thương, trả lại rừng tràm Cồn Cát cho xóm mình rồi!
Giữa đám đông đang hò reo vang dội, một bóng dáng nhỏ bé thoăn thoắt rẽ nước chạy ùa tới. Là c* Đực. Thằng bé hơn hai tuổi da dẻ đã hồng hào trở lại, hai má phúng phính cười toe toét, nhào tới ôm chầm lấy chân Khoa: — Anh Khoa! Anh Khoa về rồi nì!
Khoa cúi xuống đỡ lấy thằng bé. Vạt áo cánh phong phanh hé lộ lồng ngực nhỏ nhắn phẳng phiu. Vết bỏng rộp thâm tím do thứ dầu độc Tống Ký gây ra mấy hôm trước nay đã se miệng, bong hết vảy, để lại làn da non mịn màng, lành lặn không một vết sẹo xấu. Nhịp thở của c* Đực êm ru, tiếng cười giòn tan xua tan mọi dấu vết của cơn thập tử nhất sinh từng đe dọa sinh mạng non nớt.
Bác Bảy Chài bước tới, dang cánh tay vạm vỡ bế thốc c* Đực lên vai, cất tiếng cười hào sảng làm rúng động mặt đầm: — Thằng cháu của bác sống rồi, xóm vạn mình sống thật rồi Khoa ơi!
Bà con lối xóm vây quanh mạn thuyền, ai nấy đều rưng rưng muốn chạm tay vào chiếc liễn sành đựng mẻ dầu tràm nứa — thứ dược liệu tinh khiết đã cứu sống bao đứa trẻ xóm chài và đả bại phường gian thương hiểm ác chốn công môn.Khoa quay sang nhìn mạ. Mạ Thược đứng đó, vạt áo nâu bạc màu bay bay trong ngọn gió đầm phá mát lành. Mạ không còn phải khom lưng dằn lại từng cơn th* d*c khò khè, đôi vai gầy không còn run lên bần bật vì phế khí nghẽn tắc giữa đêm trường. Nước da mạ ửng hồng khỏe khoắn, ánh mắt lấp lánh nụ cười rạng rỡ nhất mà Khoa từng thấy suốt tám năm qua. Chứng hen suyễn phế hàn kinh niên từng giày vò mạ bao năm tháng cơ cực, nay đã dứt hẳn sau những ngày đông được sưởi ấm trọn vẹn bằng từng giọt dầu tràm nứa tinh khiết và hơi ấm tình làng nghĩa xóm.
Chị Thược đưa bàn tay ấm áp nắm chặt lấy tay con trai, khẽ siết nhẹ: — Khoa ơi, mạ con mình qua cơn bĩ cực rồi con hí. Ba con nơi chín suối hẳn cũng đang mỉm cười nhìn con đó.
Khoa khẽ gật đầu, nép vào lòng mạ. Hương tràm the ấm dịu ngọt quyện cùng mùi mồ hôi thân thương sưởi ấm khắp da thịt thằng bé.
Chiều buông, ráng đỏ phủ một lớp lụa vàng óng ả lên bãi bồi Cồn Cát. Trong gian chòi rạ đơn sơ cắm cọc mé nước, ngọn đèn dầu hạt đỗ tỏa ánh sáng vàng mơ êm dịu. Cụ Cửu Trực khoan thai bước vào, trên tay cụ là chiếc tráp gỗ mun đen bóng mộc mạc — vật báu bất ly thân của bậc danh y bao năm mai danh ẩn tích bên bờ phá.
Trước sự chứng kiến đầy trang nghiêm của mạ Thược và bác Bảy Chài, cụ Cửu đặt chiếc tráp lên chiếc chõng tre ọp ẹp. Cụ mở nắp tráp, cẩn thận lấy ra một bọc vải điều, bên trong là cuốn y thư cổ chép tay bằng chữ Nho đã ố vàng mép giấy, cùng một bộ kim châm sáng loáng.
Cụ Cửu đưa mắt nhìn Khoa, ánh nhìn vừa mực thước lại chan chứa tình yêu thương: — Cháu Khoa, lão nhìn thấy ở cháu không chỉ có đôi mắt tinh tường thấu suốt độ lửa thuần hậu, mà còn có một tấm lòng chí hiếu, chí thiện hiếm thấy trên đời. Nghề thuốc, nghề cất dầu tràm hay bất cứ bách nghệ nào của tiền nhân, nếu không có cái tâm trong sáng thì chẳng thể thành tựu. Nay trước mặt mạ cháu và bác Bảy, lão muốn thu nhận cháu làm đệ tử chân truyền, đem hết y lý kinh lạc dân gian và đạo lý trị bệnh cứu người truyền lại cho cháu. Cháu có bằng lòng theo lão học đạo không?
Bác Bảy Chài xúc động vỗ mạnh vào đùi: — Ôi chao, phúc đức ba đời nhà cô Thược rồi! Mau lên thằng Khoa, lạy tạ cụ Cửu đi cháu!
Khoa nén nỗi nghẹn ngào, bước tới quỳ xuống chiếc chiếu cói, dập đầu ba lạy trước mặt cụ Cửu: — Con xin bái tạ thầy! Con nguyện khắc ghi lời dạy của thầy, một lòng học nghề cứu người, giữ gìn ngọn lửa tràm gió cho xóm làng.
Cụ Cửu mỉm cười đôn hậu, cúi xuống đỡ Khoa đứng dậy, trao cuốn y thư vào đôi bàn tay nhỏ bé có nhiều vết xước gai tràm của cậu: — Tốt lắm! Từ nay, gánh nặng y đạo vùng đầm phá nì, lão có thể an tâm trao gửi lại cho cháu rồi.
Khoa ôm cuốn sách thuốc vào ngực, bước ra mé chái bếp nhìn ra bãi đầm.
Hoàng hôn buông xuống, mặt phá Tam Giang lung linh ánh chiều tà dát vàng lên từng con sóng. Gió bấc vẫn thổi qua rặng dứa dại mé cồn cát, nhưng cái lạnh buốt giá dường như đã lùi xa vạn dặm. Phía bến nước, ngọn lửa từ ba bệ lò đất nung vẫn bập bùng soi rọi những gương mặt rạng rỡ. Bác Bảy Chài cùng đám trai tráng xóm vạn đang rộn ràng hò dô khuân vác những giàn tre nứa mới toanh vừa vớt dưới đầm lên, tiếng búa gõ đục mộng lách cách rộn rã mép sóng, chuẩn bị dựng thêm những lò cất dầu mới cho xóm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
