Chương 10: Lời Thề Bãi Cồn Cát
Trước ánh mắt tinh anh như thấu suốt tâm can của cụ Cửu Trực, lồng ngực Khoa khẽ thắt lại. Thằng bé hiểu rõ bí mật về quầng nhiệt vàng mơ và những hạt quang xanh biếc trong tâm thức là điều tuyệt đối không thể thốt ra. Cúi nhìn manh áo rách còn vương muội than, Khoa hít sâu một hơi, thưa bằng giọng rành rọt, lễ phép — Dạ bẩm cụ... Trước đây cha con có để lại mảnh giấy bản chỉ cách phơi héo lá tràm gió đặng giữ mùi. Đêm qua mạ con lên cơn hen nghẹt thở, nhà chẳng còn một trinh mua thuốc. Con nhớ hồi nấu cháo khoai, thấy hơi nước nóng bốc lên chạm vô nắp vung lạnh thì ngưng lại thành giọt. Sẵn chiếc cối đá của cha để giã giập lá với chiếc ấm đất cũ nhặt ngoài cồn, con lấy bùn trét kín miệng ấm đun lá, rồi luồn ống nứa qua máng nước lạnh ngoài phá Tam Giang để dẫn hơi. Con cứ chụm củi liu riu, ráng canh ngọn lửa vừa độ cho lá tràm không khét... May trời thương mạ con con, từng giọt dầu mới đọng lại trong chén sành ni.
Nghe lời giải thích mộc mạc, cụ Cửu Trực im lặng hồi lâu. Đôi mày bạc của vị cựu ngự y giãn ra, bàn tay khẽ vuốt chòm râu dài, vẻ ngạc nhiên chuyển dần thành nỗi thán phục khôn xiết. Cụ nâng chén dầu lên ngang tầm mắt, khẽ gật đầu — Diệu thay! Lấy nứa ngâm nước lạnh làm ống dẫn, mượn cái buốt giá của đầm phá để ghìm giữ tinh khí đất trời. Lại biết giữ độ lửa thuần hậu đun âm ỉ, không cháy khét tà khí... Cháu Khoa, cháu còn nhỏ mà hiếu thuận cảm động đất trời, lại thông tuệ khác thường. Thứ dầu tràm nứa ni trong vắt như sương mai, tính ấm mà thanh, dẫu các ngự y năm xưa trong thành nội cũng khó lòng cất được mẻ dầu thượng phẩm dường này!
Dứt lời, cụ Cửu đứng dậy, bước tới góc chõng tre nhặt lấy chiếc lọ sành vỡ mép dán mảnh giấy đỏ in chữ Tống Ký. Vị lương y già đưa tay ngoắc bà con xóm vạn đang đứng chật ngoài vách liếp, giọng đanh thép cất lên — Bà con xóm Vạn Chòi nghe lão nói! Hôm nay nếu không nhờ mẻ dầu nứa thuần khiết của cháu Khoa, mạng sống thằng c* Đực coi như đã tàn. Bà con ngửi thử mà coi, thứ dầu Tống Ký giá một đồng bạc ni toàn là dầu hỏa nồng nặc pha mỡ cá ôi thối! Dầu hỏa bốc hỏa độc làm phỏng cháy da thịt, mỡ cá ứ đọng bít kín phế khiếu. Thằng Tống Bá Lợi vì mấy đồng bạc Đông Dương mà đang tâm bán thứ thuốc độc giết người cho bà con nghèo!
Lời nói của cụ Cửu như tiếng sét giáng xuống gian chòi rạ. Bác Bảy Chài đang ôm chặt đứa cháu nội vừa qua cơn hiểm nghèo, nghe vậy thì mắt đỏ ngầu, hai hàm răng nghiến chặt trèo trẹo. Nhìn vùng da non nớt trên ngực cháu còn phồng rộp vì dầu hỏa độc, cơn thịnh nộ trong lòng người đàn ông xóm vạn bùng lên ngùn ngụt.
— Trời cao đất dày ơi! — Bác Bảy gầm lên một tiếng xé ruột. — Quân súc sinh thất đức! Dân vạn còng lưng bẻ từng gùi tràm đổi từng bơ gạo mốc nuôi miệng, mà lão nỡ lòng nào bán dầu độc để bức tử con cháu tụi tui! Suýt nữa thì đôi tay ni hại chết cháu ruột của tau rồi!
Bà con xóm Vạn Chòi xôn xao phẫn uất. Mấy chục gương mặt sạm đen vì nắng gió bỗng chốc bừng bừng lửa giận. Bao nhiêu uất ức dồn nén bấy lâu vì bị chèn ép sưu thuế, bị ép giá tràm tươi chỉ còn hai hào một gánh, nay vỡ òa thành làn sóng căm hờn. Tiếng chửi rủa, tiếng khóc nghẹn thi nhau vang lên giữa gió bấc gầm rít.
Bác Bảy trao c* Đực cho người nhà ẵm bế, đoạn bước phăm phăm ra khỏi chòi, cất giọng sang sảng — Bà con xóm vạn! Ra hết ngoài miếu Cồn Cát cho tui!
Khoa vội vàng bước theo chân cụ Cửu Trực và bà con. Gió bấc thổi thốc từng cơn buốt lạnh, nhưng bước chân của đoàn người xóm chài dường như nặng trĩu quyết tâm. Trước ngôi miếu cổ rêu phong nép mình dưới bóng cây tràm cổ thụ đầu bãi cát, sóng phá Tam Giang dập dồn vỗ mạnh vào bờ đất.Bác Bảy Chài quỳ sụp xuống trước bậc thềm miếu, chắp đôi bàn tay thô ráp, hướng thẳng lên bãi tràm bạt ngàn mà cất lời thề — Thành hoàng bổn xứ chứng giám! Dân xóm Vạn Chòi ba mươi sáu nóc chòi hôm nay xin thề trước trời đất: Từ nay trở đi, không một ai trong xóm được bán rẻ dù chỉ một cọng lá tràm cho quân Tống Ký hay bọn lái buôn Chợ Dinh! Đứa nào hèn nhát tiếp tay cho phường gian thương hại người, chết chìm đáy phá, đắm thuyền trôi sông!
— Xin thề! Tuyệt đối không bán rẻ một nhánh lá tràm! — Mấy chục cánh tay gầy guộc đồng loạt giơ cao giữa thinh không. Tiếng thề nguyền vang vọng lấn át cả tiếng sóng gầm, rền vang khắp dải cồn cát hoang vu.
Sau lời thề sắt son, một bác chài lớn tuổi băn khoăn lên tiếng — Bác Bảy ơi, bà con mình thề không bán lá tràm cho lão Tống thì dạ lòng ai cũng ưng. Nhưng mùa đông rét mướt ri, thuyền bè không ra lộng được, không đổi tràm lấy gạo thì lấy chi mà sống qua ngày? Lũ nhỏ trong xóm còn đang sốt rét phong hàn la liệt kia kìa!
Bác Bảy quay lại nhìn Khoa, rồi nhìn sang cụ Cửu Trực, ánh mắt sáng lên tia hy vọng quả quyết — Đã có cháu Khoa! Cháu nó biết cách cất dầu tràm nứa cứu người, lại có cụ Cửu đứng ra bảo chứng. Cớ chi dân vạn ta phải cúi đầu van lạy bọn gian thương? Ngay hôm nay, ai còn sức thì vác rựa lên bãi cát, bẻ hết những gùi lá tràm già tươi tốt nhất gánh về lều mẹ con cô Thược! Dân xóm Vạn Chòi ba mươi sáu nóc nhà chung lưng đấu cật, người góp củi bửa, kẻ góp ấm đất dóng nứa, dựng lò cất dầu của chính xóm ta!
Lời hiệu triệu như thổi bùng ngọn lửa ấm áp giữa tiết trời băng giá. Bà con reo hò rầm rộ, lập tức chia nhau tản đi khắp các vạt cồn bẻ lá.
Chỉ sau hai tuần trà, từng gùi lá tràm gió bánh tẻ mướt xanh, ngậm no hơi sương đầm phá liên tiếp được chuyển về khoảng sân đất nện trước túp lều cắm cọc của mẹ con Khoa. Mùi lá tràm thơm nồng ngai ngái lan tỏa khắp không gian, lấn át hoàn toàn hơi lạnh căm căm.
Chị Thược chống tay vịn mé cửa liếp bước ra, xúc động nghẹn ngào nhìn bà con chòm xóm tấp nập mang củi khô, ấm đất và những dóng nứa già sang giúp đỡ.
Đứng giữa sân, Khoa ngước nhìn đống lá tràm xanh mướt đã chất cao quá đầu người, lại nhìn những ánh mắt tin cẩn, ấm áp của dân xóm vạn đang hướng về mình. Dẫu vậy, thằng bé nhìn ra phía bến đò Cầu Hai xa xa, nơi đ**m hàng Tống Ký vẫn sừng sững ngạo nghễ. Khoa hiểu rằng, cuộc chiến chống lại đợt phong hàn cắt ruột và dã tâm hiểm ác của phường gian thương mới chỉ thực sự bắt đầu.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
