Chương 9: Vết Nứt Hình Hàm Ếch
Hàn Văn Tiệp vội đưa mu bàn tay áo tơi quệt mạnh lên mặt, gạt phắt dòng nước ngầm đỏ ngầu sực mùi bùn thối và rêu mục đang xối xả bắn vào mắt mũi. Vị đắng chát xộc vào tận cuống họng khiến ông ho sặc sụa, chiếc chân thọt phải gồng hết gân cốt mới không trượt ngã trên đống đá dăm trơn tuột.
Thấy thầy chao đảo, Đính vội buông cán búa tạ toan lao tới đỡ, nhưng Tiệp đã giơ bàn tay chai sần ngăn lại.
— Đừng buông! Dòng nước thoát ra được là áp lực trong ấy đã giảm bớt một phần rồi. Kê mũi thép nạy tiếp đi!
Tiếng nước chảy ào ào qua lỗ đục cỡ nửa gang tay, cuồn cuộn đổ xuống rãnh thoát nước dọc bờ tường rồi cuốn theo từng mảng vữa vôi bở bục. Hai thầy trò ghìm chặt mũi choè sắt, cạy từng mẩu gạch nung sũng nước, khoét rộng dần miệng lỗ cho tới khi đủ vừa một sải tay người lớn.
Hơi lạnh tích tụ suốt mười năm trong lòng đất sâu lập tức ùa ra, buốt rát như châm kim vào da thịt. Không khí tanh nồng mùi đất sét lưu cữu quyện với mùi đá mục khiến lồng ngực người ta nghẹt lại.
Tiệp nhấc chiếc đèn khí đá bằng sắt tây dưới chân lên. Ngọn lửa khí đá màu xanh lè bập bùng chao đảo trước luồng gió ngầm, phụt lên từng lọn khói đen khét lẹt. Ông nín thở, cẩn trọng luồn cả chụp đèn lẫn cánh tay qua lỗ gạch vỡ, rọi luồng sáng vàng vọt vào khoảng không gian tăm tối mịt mùng của ngách hầm số 3.
Bóng tối mười năm rạn vỡ dưới ánh sáng le lói.
Hiện ra trước mắt Tiệp là một khoảng vòm đá rộng thênh thang nhưng lạnh lẽo như đáy huyệt. Nước ngầm từ trên vách cao không ngừng tuôn rơi, tạo thành những màn mưa bụi mờ mịt giăng kín lối đi. Nhưng khi ngửa cổ nâng cao ngọn đèn rọi thẳng l*n đ*nh vòm, cả người Tiệp bỗng đông cứng lại.
Một vết nứt khổng lồ hình hàm ếch xé toạc vòm đá chịu lực ngay trên đầu tuyến đường sắt chính.
Vết đứt gãy há hốc miệng rộng tới hơn hai gang tay, sâu hoắm và ngoằn ngoèo như một vết chém chí mạng chạy dài từ nóc ngách số 3 ăn luồn sang tận tim đường ray ngoài hầm lớn. Từng tảng đá hoa cương nặng hàng tấn đang tách dần khỏi vỉa sa thạch, chỉ còn dính lại bởi vài mạch đất sét nhão nhoét. Nước từ đỉnh đèo Heo Hút theo vết nứt hàm ếch ấy xối xả trút xuống như thác đổ, khoét rỗng túi cát ngầm bên dưới nền đường. Lớp sỏi đệm đỡ các thanh dầm gỗ lót đường ray đã bị dòng xoáy cuốn trôi đi quá nửa, để lại những hốc sụt lún sâu hoắm, trống hoác như cạm bẫy chực chờ nuốt chửng bánh sắt.
— Trời đất ơi... — Đính ghé sát mắt vào lỗ thủng, giọng run lên bần bật. — Vòm đá nứt toác thế kia... nếu tàu chạy qua thì...
— Thì sức nặng của đầu máy hơi nước cùng mấy toa xe sẽ nghiền sập toàn bộ vòm hầm trong chớp mắt. — Tiệp nghiến chặt răng, giọng khàn đặc. — Cả đoàn tàu sẽ bị chôn sống dưới hàng trăm khối đá tảng.
Tiệp lia ngọn đèn thấp xuống, rọi men theo hai bên vách đá của ngách cụt. Những gì phơi bày dưới ánh lửa càng khiến tim ông thắt nghẹn vì cay đắng và phẫn uất.
Dọc chân tường lò, những hàng cọc chống chịu lực dựng đứng năm xưa nay hiện ra trơ trọi. Đó hoàn toàn không phải loại gỗ nghiến hay kiền kiền già đanh, cũng chẳng có lấy một thanh thép đúc đúng quy chuẩn công binh hỏa xa. Bọn cai thầu năm đó đã dùng toàn gỗ tạp rẻ tiền, thân cây xốp xơ xác, nay đã mục ruỗng đen sì và phủ đầy nấm mốc trắng xóa như những khúc xương khô. Tệ hại hơn cả, những thân cọc ấy đều bị cưa bớt hơn ba tấc chiều dài; phía dưới chân cọc, người ta chỉ chêm vội vài hòn đá hộc mỏng manh để ăn bớt vật tư rồi trát vữa che mắt bên ngoài.
Bàn tay Tiệp vô thức áp chặt vào ngực áo mình. Qua lớp vải thô sờn rách, góc nhọn của mẩu cọc gãy năm xưa như cộm lên, cắn sâu vào da thịt ông từng cơn buốt nhói.Mười năm qua, tên thanh tra Pierre de La Tour và đám chủ thầu người Pháp luôn rêu rao rằng thảm kịch năm 1926 chỉ là sự cố sụt trượt do thiên tai bất khả kháng nơi rừng thiêng nước độc. Chúng lập biên bản vùi lấp ngách hầm, phong kín miệng lò để phi tang tội ác ăn bớt cọc chống, cướp đi sinh mạng mười tám phu phen rồi đút túi hàng vạn đồng bạc hoa xòe. Mảnh cọc gãy ông gìn giữ bên ngực suốt mười năm nay, cùng những khúc gỗ mục trơ khấc trước mắt, chính là chứng cứ rành rành cho sự gian lận tàn độc ấy.
Đính bám chặt lấy mép gạch sắc nhọn, ngón tay run rẩy chỉ vào khoảng rỗng dưới chân thanh ray — Thầy ơi... vòm đá đã rạn vỡ thế này, nước ngầm lại xói rỗng cả nền cát... Thế còn chuyện mấy con bu lông ở bản cá ray hôm nọ tự tháo lỏng ra là sao hở thầy? Có phải... có phải ma quỷ tác oai tác quái không?
Tiệp chậm rãi lắc đầu, đưa tay chỉ lên rãnh nứt hàm ếch đang rỉ nước — Không phải ma quỷ phá phách đâu mày. Vỉa đá khổng lồ trên đỉnh núi đang trượt dần xuống, dồn toàn bộ sức nặng ngàn cân ép lên vách hầm. Áp lực đứt gãy ngầm từ địa tầng cực kỳ khủng khiếp, nó truyền thẳng chấn động dọc theo hai dải thép tôi của đường ray. Thân ray rung bần bật với nhịp chấn mà mắt thường không trông thấy được, chính chấn động ấy đã làm các vòng ren bu lông tự xoay chuyển và lỏng dần ra.
Tiệp dừng lại một thoáng, hơi thở phả ra làn khói trắng giữa cái lạnh buốt giá — Còn nhịp gõ sắt ba ngắn một dài mà chúng ta nghe thấy đêm trước... Mày có hiểu vì sao không? Bác Ba Cẩn, cha mày, cùng mười sáu người thợ nằm lại nơi góc lò tăm tối này mười năm ròng rã, họ thấu hiểu từng thớ đá của đèo Heo Hút hơn bất cứ ai. Họ biết vòm hàm ếch này sắp sập, họ biết chuyến tàu đêm chở ba trăm đồng bào nghèo sắp lao vào cõi chết! Oan hồn phu phen không oán hận người sống, mà đang gắng gượng mượn nhịp rung của thanh ray để gõ búa báo động, van vỉ chúng ta hãy dừng đoàn tàu lại trước miệng vực sâu!
Nghe từng lời gan ruột của người thợ già, đôi mắt Đính đỏ hoe. Người thanh niên trẻ ngước nhìn những giọt nước ngầm nhỏ tí tách từ kẽ đá, nỗi sợ hãi mơ hồ về cõi âm bấy lâu nay bỗng tan biến hoàn toàn, chỉ còn lại niềm thương cảm xót xa và lòng kính trọng vô bờ bến đối với những người đã khuất.
— Họ... vẫn đang che chở cho chúng ta... — Đính nghẹn ngào lẩm bẩm.
— Phải, họ đang trông cậy vào chúng ta. — Tiệp siết chặt quai đèn, ánh mắt đanh lại đầy kiên định. — Chúng ta không thể để chuyến tàu số 4 lao vào chỗ chết. Bằng mọi giá phải chống đỡ được vòm đá này!
Tiệp cúi người thấp hơn, đưa ngọn đèn khí đá rọi sâu xuống đáy ngách hầm, nơi dòng bùn đỏ quạch đặc quánh đang ngập cao đến tận đầu gối. Lớp bùn non lưu cữu cuộn lên từng đợt bọt khí xám xịt dưới làn nước rỉ.
Ánh sáng vàng vọt quét qua những đống đá hộc sụp đổ, lướt qua những thanh tà vẹt gãy đôi chìm nghỉm dưới bùn, rồi đột ngột dừng lại ở một góc vách đá dựng đứng sâu tít bên trong.
Nơi mép đá nứt nẻ nhô ra giữa dòng bùn lầy, ánh đèn rọi trúng một chiếc búa chim gỉ sét cắm ngập sâu vào kẽ đá. Lưỡi thép đã hoen ố vì thời gian và ngập chìm trong rêu nước, nhưng phần cán gỗ lim vẫn còn nguyên vẹn, bóng sẫm lên dưới ánh lửa mờ ảo.
Tiệp nín thở, ghé sát mắt nhìn theo vệt sáng. Trên sống lưng cán gỗ mòn vẹt vì dấu tay phu thợ năm xưa, ba chữ khắc chìm bằng mũi đục thủ công hiện lên rõ mồn một Đoàn Văn Bưởi.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
