Chương 3: Lời Cảnh Báo Chân Đèo

Hàn Văn Tiệp không đáp ngay. Ông chậm rãi bước lại gần bậu cửa sổ, bàn tay thô ráp chai sần khẽ đặt lên bờ vai đang run rẩy của người thợ phụ trẻ tuổi. Gió từ thung lũng sâu vẫn thốc ngược vào lòng núi, rít qua những khe đá hẹp tạo nên chuỗi âm thanh u uất tựa hồ tiếng rên xiết ngàn xưa. Qua làn sương muối đùng đục, miệng Hầm số 14 như một họng sâu hun hút đang há to trong buốt giá.

Tiệp nhìn chăm chăm vào khoảng tối mịt mùng ấy, giọng khàn đục nhưng rành rọt — Gió lùa qua vòm đá hẹp rồi dội ngược ra mép vực, va đập vào vách đá nứt nẻ thì sinh ra tiếng rền rĩ như người than thở đó thôi. Cháu mới lên đèo, tai chưa quen tiếng núi, đêm hôm nghe đá thở gió gào rất dễ hoang mang.

Đoàn Văn Đính khẽ rùng mình, hai bàn tay vẫn bám chặt lấy mép bậu cửa gỗ — Thật chỉ là gió thôi sao chú? Cháu nghe... nghe rõ mồn một như tiếng cào cấu cơ mà...

— Đính này! — Bàn tay Tiệp siết nhẹ trên vai cậu, giọng ông đanh lại nhưng chan chứa sự chở che. — Gió núi lộng thì lòng người chớ động. Phu đường sống bằng cái tâm ngay thẳng và đôi tai nghe chuẩn tiếng búa gõ sắt thép. Mau quay lại dọn dẹp đồ nghề, chuẩn bị dầu mỡ cho ca trực. Có tao ở đây, không việc gì phải sợ.

Suốt một ngày mùa đông giá buốt, sương mù giăng đặc khắp triền đèo Heo Hút, biến con đường sắt uốn lượn bên sườn vực thành sợi chỉ mờ ảo chìm trong lạnh lẽo. Tiệp cùng Đính thay nhau đi dọc đoạn đường ray trước cửa hầm, kiểm tra từng đinh cóc, dọn dẹp từng mảng đá dăm rơi vãi sau chuyến tàu than ban sáng.

Chập choạng tối, bóng đêm buông xuống ngọn đèo nhanh như tấm màn đen nặng trịch. Hơi lạnh từ các hốc đá phả ra buốt nhói từng thớ thịt.

Trong chòi tuần đường, ngọn đèn dầu hỏa leo lét phả ánh sáng vàng vọt lên vách ván xiêu vẹo. Tiệp cẩn thận vặn chặt nắp bình dầu, trao chiếc đèn bão và cuốn sổ ghi chép hành trình cho Đính. Ông dặn dò rành rọt — Tối nay mày trực chòi canh. Nhớ châm than sưởi cho đượm, chốc chốc phải ngó ra cột tín hiệu trước cửa hầm. Hễ thấy chuyến tàu hàng vượt dốc thì phất cờ vàng báo thông tuyến, tuyệt đối không được rời chòi nửa bước.

Đính đón lấy cuốn sổ, gật đầu vẻ lễ phép — Dạ, cháu nhớ rồi. Nhưng trời rét mướt thế này, chú định đi đâu?

— Tao có việc cần xuống chân đèo một lát. Canh hai tao sẽ về.

Kéo sụp vành nón lá, Tiệp khoác chặt chiếc áo tơi đệm xơ dừa sờn cũ, tay cầm chiếc búa kiểm âm cán lim mòn vẹt dùng làm gậy chống. Bước chân thọt của ông lần từng nhịp khập khiễng trên con dốc đá trơn tuột dẫn xuống thung lũng. Đêm đông miền Trung tịch mịch đến rợn người. Tiếng nước chảy róc rách dưới khe sâu lẫn trong tiếng gió hú từng hồi qua tán cây rừng xao xác.

Đi chừng nửa dặm đường mòn men theo chân cầu cạn, trước mắt Tiệp hiện ra bóng dáng xiêu vẹo của Miếu Cô Chết Trôi. Ngôi miếu cổ nép mình dưới gốc đa rậm rạp rễ buông chằng chịt, tường vôi loang lổ rêu phong, chỉ có một vệt khói nhang mỏng manh bay là là trên mái ngói âm dương sứt mẻ. Nơi đây vốn là chốn nương náu hương linh của những phu phen bạc mệnh ngã xuống trong những năm tháng khai sơn phá thạch mở đường sắt.

Tiệp gạt cành lá ẩm ướt, bước qua bậc thềm đá xanh. Bên trong gian miếu mờ ảo khói trầm, một bóng người gầy guộc đang ngồi xếp bằng bên chiếc lò sưởi bằng đất nung đỏ lửa. Đó là Cụ Mùi. Năm nay cụ đã sáu mươi tám tuổi, râu tóc bạc phơ như cước, con mắt trái đã chột từ thời trai trẻ sau một vụ nổ mìn phá đá mở đường. Những ngón tay gầy guộc khẳng khiu của cụ đang chầm chậm lần từng hạt gỗ đào trên tràng chuỗi dài, miệng lầm rầm niệm chú.

Nghe tiếng bước chân khập khiễng quen thuộc trên nền gạch, Cụ Mùi không ngẩng đầu lên, chỉ cất giọng khào khào như tiếng cối đá nghiền ngô — Chú thợ tuần đấy à? Lòng núi đang rên xiết, gió dưới vực thổi ngược lên ngọn, lão già này biết thế nào chú cũng tìm đến.

Tiệp tháo nón lá đặt bên bậu cửa, kính cẩn vái trước bàn thờ nghi ngút khói hương rồi mới bước lại ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng tre đối diện cụ — Thưa cụ Hương, đêm qua trong hầm... lại có chuyện chẳng lành. Bốn chiếc bu lông cá ray trước tường bịt ngách số 3 tự dưng lỏng toác, rồi trong ruột đá dội ra tiếng búa gõ sắt. Bàn chân thọt của tôi cũng cảm thấy mạch đá ngầm đang rạn nứt từng cơn.

Cụ Mùi dừng tay trên tràng hạt gỗ đào. Con mắt phải còn lại của cụ ánh lên một tia sáng thâm trầm, xoáy vào gương mặt khắc khổ cáu màu muội than của Tiệp. Cụ khẽ thở dài, tiếng thở buốt lạnh chìm vào làn khói trầm mờ ảo:— Mười năm rồi, chú Tiệp ạ. Mười tám mạng người nằm dưới ngách cụt ấy chưa ngày nào được yên mồ yên mả. Long mạch ngọn đèo Heo Hút này đang cựa mình dữ dội lắm. Vỉa đá ngầm oằn xuống, còn oán khí của những người phu phen năm xưa chưa được siêu thoát thì bốc lên ngùn ngụt, quấn chặt lấy từng tấc vòm Hầm số 14.

Tiệp siết chặt hai bàn tay thô ráp, lồng ngực thắt lại — Chẳng lẽ... họ oán hận mà muốn hại người đi tàu hay sao, thưa cụ?

— Không! — Cụ Mùi lắc đầu dứt khoát, giọng trầm xuống đầy nghiêm cẩn. — Phu phen sống đời lam lũ, chết đi trong oan khuất nhưng cái nghĩa cái tình không bao giờ mất. Tiếng búa gõ ấy không phải để hại người cõi trần, mà là lời kêu cứu, cũng là lời cảnh báo sống còn. Mạch đá nứt toác rồi, nếu không sớm cứu vãn thì cả dãy đèo này sẽ đổ ụp xuống, chôn vùi tất cả!

Nói đoạn, Cụ Mùi thò tay vào trong vạt áo vải nâu sồng, rút ra một gói nhỏ bọc cẩn thận bằng lá chuối khô buộc lạt giang. Cụ cẩn thận đặt gói ấy vào lòng bàn tay chai sần của Tiệp — Đây là nắm đất đỏ lấy từ gò đất phong thủy nguyên vẹn nhất dưới chân đèo, đã được lão già này làm lễ khấn nguyện suốt ba ngày ba đêm. Lúc giao canh ba đêm nay, chú mang vào rải dọc theo chân bức tường vôi bịt ngách số 3.

Tiệp đón lấy bọc lá chuối khô, cảm nhận hơi lạnh thấu da thịt truyền qua lớp lá ráp — Rải đất đỏ để làm gì, thưa cụ Hương?

— Đất đỏ nối liền huyết mạch của núi với cõi âm. — Cụ Mùi nhìn thẳng vào mắt Tiệp, giọng khàn đặc dặn dò. — Khi rải nắm đất này xuống, chú sẽ lắng nghe được tường tận điều mà người khuất mặt gửi gắm cõi trần. Hãy giữ cho tâm thật tĩnh, tai thật sáng. Mọi huyền cơ giữ mạng cho hàng trăm con người trên chuyến tàu đêm đều nằm ở đó.

Tiệp vừa cất bọc lá chuối khô vào túi trong áo tơi thì bên ngoài dốc đèo bỗng vang lên tiếng bước chân chạy dồn dập trên sỏi đá. Tiếng thở hồng hộc đứt quãng xé tan màn đêm tĩnh lặng.

Một bóng người lao vụt qua cửa miếu, suýt vấp ngã trên bậc thềm đá. Đính hiện ra, cả người ướt đẫm sương đêm, hai ống quần vải thô bết đầy bùn đất đỏ. Gương mặt chàng trai trẻ tái mét, đôi mắt mở to đầy vẻ sợ hãi.

— Chú Tiệp ơi! May quá... chú vẫn ở đây! — Đính thở không ra hơi, vịn chặt lấy cánh cửa miếu run rẩy.

Tiệp vội đứng dậy, đỡ lấy vai người thợ phụ — Có chuyện gì mà hớt hải thế? Đã bảo ở lại trông chòi cơ mà?

Đính nuốt nước bọt đánh ực, giọng nghẹn lại — Ga Lạc Sơn vừa cử phu chạy bộ hỏa tốc lên báo tin! Viên thanh tra hỏa xa Pierre de La Tour sắp sửa thân chinh lên đèo đêm nay! Ông ta muốn thị sát toàn tuyến Hầm số 14 để nghiệm thu lần cuối, chuẩn bị cho ngày khánh thành tuyến đường sắt xuyên Đông Dương! Người của ga bảo ông lớn đang giận dữ lắm, tuyên bố nếu có kẻ nào dám bịa chuyện ma quỷ làm trễ nải hành trình hay cản trở lễ thông tuyến, ông ta sẽ tống giam ngay lập tức!

Lồng ngực Tiệp nảy lên một nhịp buốt giá. Pierre de La Tour! Cái tên ấy vang lên như một tiếng sét giữa đêm đông. Mười năm trước, chính viên thanh tra này đã vội vã đặt bút ký biên bản vùi lấp ngách hầm số 3, nhẫn tâm bưng bít sự thật về những thanh chống lò rút ruột để khép lại vụ tai nạn. Nay hắn lại lên đèo, mang theo quyền uy và sự tàn nhẫn của kẻ cai trị để ép đoàn tàu phải lao qua vòm hầm đang rạn nứt.

Bàn tay Tiệp vô thức luồn vào túi áo tơi sờn cũ, siết chặt nắm đất đỏ bọc lá chuối khô. Ngay sát bên cạnh bọc đất, mảnh thép cọc chống lò gãy năm xưa dường như đang nóng rẫy lên, tì vào lồng ngực ông như một lời nhắc nhở đanh thép về món nợ máu xương chưa trả.

Tiệp ngẩng đầu bước ra cửa miếu, ngước nhìn l*n đ*nh đèo cao hun hút. Màn sương muối ngoài triền dốc càng lúc càng dày đặc, phủ kín những sườn đá hiểm trở trong một màu xám xịt u uất. Đỉnh đèo Heo Hút mờ mịt chìm trong bóng tối dày đặc, tựa hồ một con thú khổng lồ đang rình rập nuốt chửng những số phận nhỏ nhoi.

Đúng khoảnh khắc ấy, từ tầng không thẳm thẳm, một tiếng sấm khan bất thần nổ rền giữa đêm đông buốt giá: "Đùng... đoàng!". Âm thanh khô khốc chát chúa xé toạc bầu trời mùa đông lạnh lẽo, dội vào vách núi đá từng hồi rung chuyển dữ dội, báo hiệu điềm chẳng lành sắp sửa giáng xuống cung đường sắt tử thần.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.