Chương 20: Ánh Sáng Nơi Vòm Đổ

Tiếng gọi thất thanh dội vào màng nhĩ kéo giật Tiệp khỏi bóng tối chập chờn — Thầy ơi! Chú Tiệp ơi!

Một bàn tay thô ráp lay mạnh vai ông. Tiệp khó nhọc mở mắt, thấy ánh đuốc bập bùng soi rõ gương mặt Đính nhòe nhoẹt nước mắt và muội than. Phía sau, người tài xế hỏa xa cùng hàng chục hành khách từ các toa xe bọc gỗ đang ùa tới vây quanh.

— Đỡ lấy bác ấy! Mau đưa vào chòi tuần đường! — Người tài xế hô lớn.

Nhiều cánh tay nâng bổng Tiệp lên khỏi bờ cỏ sũng nước. Vết rách nơi ống chân trái nhói buốt khiến ông rên khẽ, nhưng bàn tay vẫn ghì chặt ngực áo. Bọc giấy tờ niêm phong hắc ín vẫn cộm cứng nơi lồng ngực. Tiệp thở phào, để mặc dòng người đưa mình về căn chòi gác bên sườn đèo.

Bên trong chòi số 14, hơi ấm bếp than hồng xua tan giá lạnh. Cụ Mùi thoăn thoắt quạt than, lầm rầm tạ ơn trời đất. Cửu Thao cùng nhóm thợ già Lạc Sơn vừa chạy lên đèo, mang chăn cũ và nắm lá thuốc giã nát đắp vào vết thương cho Tiệp.

— May quá, chú còn sống! — Cửu Thao run rẩy đỡ bát nước chè gừng kề vào môi Tiệp. — Nghe hai tiếng pháo nổ xé trời rồi tiếng bánh sắt nghiến khựng lại, dưới xóm ai nấy đều bủn rủn. Chuyến tàu thoát nạn rồi!

Đính quỳ bên sạp gỗ, hai tay nâng cây búa cán lim bóng nhẵn dính đầy bùn nhão — Con tìm thấy búa của thầy rồi! Nó văng vào kẹt đá dưới chân vòm, nguyên vẹn không sứt mẩu nào. Cả chiếc búa chim của cha con nữa, con vẫn giắt bên hông đây!

Tiệp miết ngón tay chai sạn lên cán gỗ thân thuộc. Ngoài cửa chòi, tiếng khóc cười của hàng trăm con người vẫn vang rền. Những người mẹ nghèo bế con nhỏ, phu phen đi vé hạng tư túa xuống ray, chắp tay hướng về vòm hầm vái lạy. Nếu không có hai quả pháo nổ trên mặt thép, cả đoàn tàu chở hơn ba trăm sinh mạng giờ này đã tan xác dưới vực sâu.

Trời vừa hửng sáng, tiếng còi goòng máy từ ga Lạc Sơn xé tan màn sương. Chiếc goòng dừng trước mũi tàu số 4. Vị Chánh thanh tra Nha Hỏa xa Đông Dương bước xuống cùng bốn cảnh binh bồng súng trường và một viên ký lục. Đi sau cùng là Pierre de La Tour. Gã không còn vẻ trịch thượng; bộ âu phục kaki lấm lem bùn đất, mặt xám ngoét như người chết trôi.

Thấy quan chức cấp cao của Phủ Toàn quyền xuất hiện, Tiệp chống cây gậy tre gượng đứng dậy. Ông nén cơn đau buốt ở chân, khập khiễng bước ra khỏi bậu cửa. Hàng trăm ánh mắt lập tức dồn về phía người thợ già gầy guộc.

— Bẩm quan lớn! — Tiệp cất giọng đanh thép. — Tôi là Hàn Văn Tiệp, thợ tuần đường Hầm số 14. Đêm qua ngách số 3 sập vỡ, suýt chôn vùi đoàn tàu khách nếu không kịp phát hỏa hiệu báo nguy. Nhưng vụ sạt lở này không phải do thiên tai!

Viên Chánh thanh tra nghiêm giọng — Ông có điều chi muốn thưa? Chúng tôi nhận được tin báo hầm bị sụt lún nguy cấp.

— Kẻ toan chôn vùi tuyến đường chính là Pierre de La Tour! — Tiệp thẳng tay chỉ vào mặt gã thanh tra đang lấm lét sau lưng toán lính.

De La Tour giật bắn mình, râu mép giật giật, gào the thé — Đồ phu phen vu khống! Monsieur l'Inspecteur, ngài đừng nghe lời lão thọt mê tín này! Lão phá hoại...— Im miệng! — Tiệp quát lớn, tiếng nói trầm hùng át tiếng gió đèo.

Tiệp mở vạt áo sờn rách, lôi ra chiếc hộp sắt tây bám nhựa hắc ín. Đính bước tới, dùng lưỡi đục bẩy tung nắp hộp. Trước vị Chánh thanh tra cùng đám đông hành khách, Tiệp giơ cao tập giấy ố vàng và mảnh thép gãy — Đây là bản giao kèo rút ruột cọc chống lò năm 1926 mang chữ ký của De La Tour và chủ thầu Francois, ăn chia ba ngàn đồng bạc hoa xòe! Đây là cuốn sổ điểm danh thấm máu của mười tám thợ phu bị chúng nổ mìn chôn sống để phi tang! Suốt mười năm, chúng cưa bớt cọc gỗ lim ba tấc, kê đá hộc dối trá khiến vỉa đá rạn nứt. Mảnh thép này gãy từ chính thanh chống giả mạo ấy, tôi mang trong ngực mười năm trời chờ ngày công lý sáng tỏ!

Cửu Thao cùng nhóm thợ già Lạc Sơn đồng loạt bước lên chắp tay — Chúng tôi là thợ hầm năm xưa, xin đem tính mạng ra làm chứng! Quan lớn hãy cho đào khối sụt lở ra xem thì khắc rõ!

Viên Chánh thanh tra đón lấy tập giấy tờ, trừng mắt nhìn nét chữ ký cùng con dấu son đỏ rực năm 1926. Mặt De La Tour cắt không còn giọt máu. Gã run rẩy toan lẩn trốn, nhưng hai mũi súng trường của cảnh binh đã lập tức chĩa thẳng ngực chặn đứng.

— Đưa toán công binh vào khai thông cửa hầm ngay! — Vị đại diện Phủ Toàn quyền hạ lệnh dứt khoát.

Toán công binh cùng thợ xóm Lạc Sơn vác cuốc xẻng, xà beng lao vào hầm dọn đá. Dưới sự điều phối của Cửu Thao, những khối đá hộc chắn trước ngách số 3 lần lượt bị bẩy ra, để lộ khoảng vòm rỗng hoác nằm sâu phía sau bức tường vôi đổ nát.

Một tiếng hô nghẹn ngào từ trong hầm vọng ra — Thấy rồi! Trời ơi... thấy các anh rồi!

Khúc đèo bỗng chốc lặng phắc. Tiệp khập khiễng bước theo viên Chánh thanh tra tiến vào cửa hầm. Dưới ánh sáng rực rỡ của đuốc và đèn măngsông, một cảnh tượng bi tráng hiện ra nơi đáy ngách cụt.

Mười tám bộ hài cốt nằm quây quần trên nền đá lạnh, bên những chiếc choè sắt, búa tạ và xẻng đào mòn vẹt. Ngay trước lối vào ngách năm xưa, một bộ hài cốt ngồi tựa lưng vách đá, bàn tay xương xẩu vẫn giữ chặt thanh sắt dài đặt nghiêng trên sống ray, như dồn chút tàn lực cuối cùng để gõ nhịp báo nguy cho hậu thế. Đó chính là Đội trưởng Ba Cẩn. Cách đó nửa sải tay, một bộ hài cốt khác nằm nghiêng bên chiếc đe đá với chiếc bình toong sắt hoen gỉ, Đính run rẩy tháo chiếc búa chim bên hông nghẹn ngào đặt lại bên hài cốt người cha.

— Bố ơi!... — Đính khuỵu xuống nền bùn, hai tay ôm lấy hài cốt cha mình mà nấc lên từng hồi xé ruột. Chàng trai trẻ áp trán vào khúc xương sườn đã ngả màu rêu đá, giọt nước mắt nóng hổi rỏ xuống mảnh bùn khô khốc mười năm trời.

Tiệp đứng chết lặng, hai gối run bần bật. Nước mắt người thợ già lăn dài qua gò má nhăn nheo. Mười tám người anh em từng chia nhau ngụm nước chè chát, củ khoai nướng năm nào... Họ không hề là oan hồn đòi mạng, mà kiên trinh giữ lấy thanh ray lạnh lẽo để gõ nhịp chuông chở che người sống.

Hành khách trên tàu số 4, người lái tàu, lính công binh cùng dân làng Lạc Sơn đồng loạt ngả nón, quỳ sụp bên ray cúi đầu mặc niệm. Tiếng tụng kinh cùng tiếng chuỗi hạt gỗ đào của Cụ Mùi vang vọng thâm nghiêm, giải thoát nỗi oan khuất bị giam cầm suốt một thập kỷ.

— Bắt lấy Pierre de La Tour! — Tiếng vị quan chức cấp cao vang lên đanh gọn.

Hai viên cảnh binh xốc tới, bẻ ngoặt hai tay De La Tour ra phía sau rồi bập mạnh đôi còng sắt lạnh ngắt vào cổ tay gã. Tên thanh tra gian ác rũ rượi như một con gà ướt, bị lôi xềnh xệch dọc theo đoàn tàu giữa tiếng hô phẫn nộ cùng những nắm đất đá ném tới tấp từ đám đông hành khách và dân phu nghèo khổ.

Tiệp bước ra khỏi vòm cuốn tối tăm, hít một hơi thật sâu lồng ngực. Mưa dầm cuối năm đã dứt tự bao giờ. Những đám mây xám xịt bắt đầu rẽ lối, nhường chỗ cho một dải nắng sớm tinh khôi đầu tiên xuyên qua làn sương mỏng, rọi chiếu rực rỡ lên vách đá hoang lạnh nơi cửa Hầm số 14.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.