Chương 12: Đột Nhập Kho Vật Tư
Hàn Văn Tiệp nép sát người vào gờ đá ẩm ướt, nín thở lắng nghe từng tiếng búa gõ đập cọc chan chát của đám lính tuần bên dưới lối mòn. Bốn mũi lê sáng loáng rạch vào sương sớm, chiếc lều bạt dã chiến cắm sừng sững giữa tim đường độc đạo. Tiệp biết rõ mình không thể bước ra lúc này; tấm thẻ thợ tuần bị thu hồi hôm qua đồng nghĩa với việc ông đã trở thành kẻ ngoài rìa bị xua đuổi.
Lùi lại từng bước êm ru, Tiệp lần theo vách đá tai mèo trơn trượt sau lưng taluy. Bàn chân trái thọt nhẹ nhói buốt mỗi khi tì vào đá sắc, nhưng kinh nghiệm mười mấy năm bám đèo giúp ông luồn lách qua các hốc cây dại rậm rạp, vòng qua sườn núi cheo leo để trở về căn chòi gỗ số 14 từ lối dốc đứng phía sau.
Vừa đẩy cánh cửa liếp bước vào, một bóng người đã vội lao tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc của ông. Đính mặt mày tái nhợt, chiếc búa chim của người cha quá cố vẫn cài chắc chắn bên hông áo bà ba vá vai. Cậu hấp tấp thì thầm: — Thầy về rồi! Cháu lo thắt cả ruột. Lúc nãy dưới ga Lạc Sơn có tay cai sai lính phi ngựa hỏa tốc lên đèo, dán trát của viên thanh tra Pháp ngay cột mốc trước cửa hầm.
Tiệp ngồi xuống mép chõng tre, đưa tay áo gạt giọt sương lạnh đọng trên mi mắt: — Trát viết những gì?
— Trát lệnh nghiêm cấm ngặt nghèo, thầy ạ. — Đính nuốt khan, giọng run rẩy nhưng ánh mắt vẫn nhìn thẳng vào Tiệp. — Viên thanh tra De La Tour hạ lệnh từ trưa nay cấm tuyệt đối bất kỳ ai đến gần đường ray ngoài kíp lính tuần của hắn. Ai lảng vảng quanh hầm mà không có lệnh điều động bằng giấy đỏ sẽ bị coi là quân cướp phá hoại, lính được quyền nổ súng bắn chết tại chỗ không cần tra hỏi.
Tiệp siết chặt nắm tay, bàn tay chạm vào mảnh thép cọc lò gãy sắc lạnh trong túi ngực. De La Tour đang giãy giụa như thú dữ cùng đường hòng che giấu vết nứt chết người trước ngày khánh thành toàn tuyến. — Hắn càng vội vã bịt mắt bịt tai, cái chết của đoàn tàu càng đến gần. — Tiệp gằn từng tiếng trầm đục. — Kệ trát của hắn. Việc cứu người không thể dừng lại.
Cả buổi chiều mùa đông hôm ấy, sương mù dày đặc buông xuống bao trùm toàn bộ dãy đèo Heo Hút. Mưa dầm bắt đầu rả rích trút hạt, xối nước xám xịt dọc triền taluy đường sắt. Bên ô cửa liếp khép hờ của chòi gác, Tiệp cùng Đính kiên nhẫn quan sát từng cử động dưới lán trại dã chiến.
Lính tuần mang súng trường chỉ là mấy tay lính khố đỏ bị điều động bất đắc dĩ lên chốn rừng thiêng nước độc. Khi bóng chiều chập choạng buông xuống và gió lạnh rít qua khe đá buốt thấu xương, tính chểnh mảng của bọn chúng lộ rõ. Tên cai bản xứ mặc đồ kaki vàng rút vào lều bạt đốt đèn bão, khui chai rượu đế cùng ba tên lính ngồi đánh bài bên bếp lửa sưởi ấm. Bọn chúng phân công nhau đứng gác qua loa; mỗi lần đổi gác lúc nhá nhem tối đều kéo dài lộn xộn, bỏ trống khoảng đường ray ngập trong màn mưa đen đặc suốt nửa khắc đồng hồ.
— Quy luật của chúng là thế đấy. Mưa càng to, chúng càng co cụm lại trong lều. — Tiệp ghé tai Đính căn dặn.
Chờ đến canh một, khi núi rừng chìm hẳn vào bóng đêm đen kịt chỉ còn tiếng nước chảy róc rách qua các rãnh đá, Tiệp gật đầu ra hiệu. Hai thầy trò khoác áo tơi xơ dừa, nén hơi thở luồn ra cửa sau của chòi. Không dùng đèn khí đá để tránh ánh sáng tố giác tung tích, Tiệp dẫn đường bằng trí nhớ của đôi bàn chân đã chai sạn trên từng khúc quanh sườn đèo.
Họ men theo vách vực dốc ngược, trườn qua bãi tha ma phu phen hoang lạnh dưới chân cầu cạn. Mùi hương tàn lạnh lẽo từ ngôi Miếu Cô Chết Trôi quyện trong gió mưa ẩm ướt phả vào mặt. Những nấm mồ đắp vội bằng đá hộc của những người phu mở đường năm xưa nằm im lìm dưới tán đa cổ thụ. Bước qua chốn âm u này, Tiệp chắp hai tay vái nhẹ về phía bóng tối, thì thầm cầu xin những linh hồn đồng đội dẫn lối. Đính đi sát phía sau, bàn tay nắm chặt cán gỗ lim của chiếc búa chim bên hông, bước chân vững chãi lạ thường.
Đúng giờ tý, hai bóng người lách qua hàng rào gãy đổ của khu kho vật tư bỏ hoang nằm nép mình bên chân cầu cạn. Tiếng nước từ các dầm cầu sắt nhỏ giọt “tỏng... tỏng...” xuống đống gỉ sắt vụn nát.
Từ bóng tối của một bụi tre gai rậm rạp, bóng người gầy guộc bước ra, khẽ ho một tiếng ngắn kèm theo hai tiếng gõ khô khốc vào cán xà beng. Tiệp lập tức đáp lại bằng nhịp vỗ nhẹ vào lòng bàn tay. — Anh Thao? — Tiệp cất giọng khe khẽ.
— Tôi đây, chú Tiệp! — Cửu Thao bước tới, vết sẹo dài bên má trái mờ đi trong màn đêm. Phía sau ông, năm người thợ già xóm Lạc Sơn nai nịt gọn gàng, người vác xà beng, người cầm búa tạ, vai đeo túi vải đựng bầu mỡ bò và giẻ lau. Họ lặng lẽ gật đầu chào Tiệp, ánh mắt lấp lánh quyết tâm của những người thợ mộc hầm dạn dày sóng gió.
Kho vật tư là một gian nhà tôn xi vẹo, vách ván gỗ đã mục nát và bám đầy rêu xanh sau nhiều năm bỏ phế. Cửa kho bằng gỗ nghiến dày cộm được khóa chặt bằng một sợi xích sắt to bản cùng chiếc ổ khóa đồng hoen gỉ, đóng cứng ngắc bởi lớp bụi đất và nước mưa kết tụ.
Cửu Thao ghé sát xà beng vào khoen sắt, nháy mắt với một thợ già khỏe mạnh: — Cùng ghè lực một lượt. Đừng để phát ra tiếng vang lớn!
Hai thanh xà beng thép tôi đồng loạt cắm ngập vào khe cửa mục. Tiệp chêm thêm một thanh nêm gỗ vào điểm tựa. Dưới sức bẩy dồn nén của những cánh tay rắn rỏi, chiếc then sắt rên lên ken két rồi “rắc” một tiếng đanh gọn, ổ khóa hoen gỉ bật tung khỏi khoen cửa.Cánh cửa gỗ nặng nề được đẩy hé sang một bên. Nhóm người lách mình vào trong, khép chặt cánh cửa lại để ngăn ánh sáng lọt ra ngoài. Tiệp lấy chiếc đèn hạt đỗ che kín bằng ống tre đục lỗ nhỏ, thổi bùng đốm lửa le lói.
Mùi ẩm mốc lưu cữu ngập tràn gian kho. Dưới ánh sáng mờ ảo, gian nhà chứa ngổn ngang những đống đinh cóc gỉ sét, quang gánh và xẻng sắt vứt lăn lóc. Tiến sâu vào góc kho, nơi sàn gỗ được kê cao khỏi mặt đất ngập nước, tim Tiệp đập rộn lên khi nhìn thấy hai khối kim loại sừng sững phủ kín bạt gai dầu.
Cửu Thao giật tung tấm bạt gai dầu cũ nát. Dưới lớp vải bố ẩm mục là hai chiếc kích sắt công binh mười tấn thời mở tuyến. Bề mặt thép dày dặn được quét một lớp mỡ bò vàng xỉn dày cộp để chống gỉ, trục ren xoắn ốc vẫn còn nguyên những đường tiện sắc nét, đanh thép. Cạnh đó, ba súc gỗ lim vuông vức, mỗi chiều rộng đúng một gang tay rưỡi, dài hơn ba thước tây, nằm ngay ngắn trên giá đỡ. Thớ gỗ lim nâu sẫm, đanh chắc như đá hoa cương, gõ ngón tay vào kêu “tong tong” giòn giã.
— Đồ tốt quá, chú Tiệp ơi! — Cửu Thao mừng rỡ thốt lên, ngón tay mân mê đường ren kích sắt. — Gỗ lim tía này mà làm ngàm chịu lực chữ A thì vòm đá nghìn tấn cũng khó lòng đè bẹp nổi!
— Các anh, bôi thêm mỡ bò vào trục ren ngay đi! — Tiệp hối hả giục, giọng run lên vì xúc động. — Đính, cầm giẻ lau sạch đất cát bám ở chân đế kích!
Những người thợ già lập tức bắt tay vào việc một cách thuần thục. Bầu mỡ bò được trút ra, từng thớ ren xoắn ốc được xoa đều mỡ trơn tru. Cần bẩy sắt tra vào ổ trục xoay thử một vòng, bánh răng khớp vào nhau êm ru không một tiếng rít.
— Bây giờ phải đưa đồ ra ngoài. Chiếc xe goòng tay giấu ở đâu? — Tiệp quay sang hỏi Cửu Thao.
— Cạnh hông kho, vùi dưới bụi dương xỉ rậm rạp gần bờ mương dẫn nước. Chiều nay tôi đã bí mật tra dầu vào trục bánh xe rồi. — Cửu Thao đáp.
Hai người thợ già lực lưỡng lập tức luồn ra ngoài, dạt đám lá dương xỉ ướt đẫm để kéo chiếc xe goòng tay bốn bánh bằng sắt đúc ra khoảng đất trống. Mặt sàn xe bằng gỗ ván dày tuy đã phai màu sương gió nhưng khung sườn chữ U vẫn vô cùng vững chãi.
Tám con người cùng ghé vai gồng mình. Từng súc gỗ lim nặng như chì được nâng lên, nhẹ nhàng chuyển qua khung cửa kho hẹp rồi đặt ngay ngắn dọc thân xe goòng. Kế tiếp, hai chiếc kích sắt công binh mười tấn lạnh ngắt được đặt cân đối ở hai bên sườn xe để giữ trọng tâm. Toàn bộ trọng lượng hàng tấn vật tư dồn xuống khiến các lò xo giảm chấn của xe goòng lún xuống một tấc.
Họ cắn răng đẩy chiếc xe nặng trịch qua lối mòn lầy lội đầy rễ cây mục, hướng thẳng về phía tuyến ray chính cách đó chừng hai mươi bước chân. Nước mưa tuôn ròng ròng trên những khuôn mặt gầy guộc khắc khổ. Bàn chân bấm chặt vào đất bùn trơn tuột, hơi thở phì phò hòa vào màn sương dầm lạnh ngắt.
Cuối cùng, gờ bánh sắt của chiếc xe goòng cũng chạm vào dải thép lạnh ngắt của tuyến đường sắt xuyên Đông Dương. Tiệp cùng Cửu Thao khéo léo bẩy bánh xe trượt êm ái lên mặt ray, sẵn sàng cho cuộc vượt dốc ngược lên Hầm số 14.
Đúng khoảnh khắc bánh xe goòng vừa khớp vào rãnh ray nghe một tiếng “cạch” rất khẽ, một tia chớp rạch ngang bầu trời đèo Heo Hút.
Trong chớp mắt, ánh đèn pin chớp nháy loang loáng từ phía lán trại lính tuần dưới chân dốc quét vội qua những tán cây sau lưng họ.
Tiếng quát tháo the thé của tên cai kaki vàng xé toạc màn mưa: — Đứa nào lảng vảng dưới chân cầu cạn? Đứng lại!
Liền sau đó, tiếng chó săn sủa ran rát tai, hung hãn rộ lên dồn dập trong bóng đêm dầm dề, tiếng chân người giẫm huỳnh huỵch trên đá balat đang lao thẳng về phía kho vật tư.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
