Chương 20: Hai Chiếc Nêm đời
Cụ cố Châu Vĩnh Thuận lắng nghe tiếng bước chân gấp gáp của hai đứa chắt lăng xăng ngoài sân gạch. Tiếng chổi đót quét ràn rạt trên thềm đá, tiếng xô nước dội mát rượi hòa cùng tiếng củi trấu reo lách tách trong lòng bễ lớn. Dẫu đôi mắt trăm năm đã phủ lớp sương mờ đục, cụ vẫn cảm nhận rành rọt hơi ấm quen thuộc của gian từ đường cổ kính đang rạo rực hồi sinh.
Đạt và Phú bước khẽ vào buồng, mỗi đứa đỡ lấy một bên cánh tay gầy guộc của cụ. Bàn tay thằng Đạt thô ráp, chai sần vì mấy mươi năm ghìm nêm, vung chày; bàn tay thằng Phú dẻo dai, ấm nóng, thoang thoảng mùi mực tàu chấm sổ sách và hương dầu lạc cúc đỏ. Hai nguồn sinh lực ấy như hai dòng nước mát chảy tràn vào thân thể già nua một trăm hai mươi bảy tuổi, tiếp thêm cho cụ chút dũng khí để gượng đứng dậy.
Cụ chống cây gậy song, từng bước dò dẫm qua ngưỡng cửa gỗ lim. Gian tiền tế chiều ba mươi Tết năm 1930 thơm ngát mùi trầm hương quyện lẫn vị dầu bùi ngậy. Khi hai đứa chắt cẩn trọng đỡ cụ ngồi xuống chiếc ghế mây cổ đặt ngay giữa gian nhà, cụ khẽ ngẩng đầu. Trước mắt cụ, dù chỉ là những vệt sáng vàng chập chờn lờ mờ, nhưng cụ biết trên hương án tiên tổ, chiếc mâm đồng lớn đang bày biện nghiêm cẩn. Đặt trang trọng trên chiếc mâm đồng ấy là súc nêm gỗ kền kền cổ truyền đen nhánh, bóng loáng mồ hôi của mấy đời thợ họ Châu.
Cụ vươn những ngón tay khô gầy lần tìm trong khoảng không. Đạt hiểu ý, vội bưng mâm đồng hạ xuống chiếc bàn trà kề bên cụ. Cụ cố run rẩy chạm vào thớ nêm. Đầu nêm đã tòe ra đôi chút vì ngàn vạn nhịp chày vồ giáng xuống, nhưng thân gỗ vẫn đanh chắc như đá tảng dưới lòng sông Trà Bồng. Từng đường vân mịn màng, từng vết xước sâu hoắm như vết khắc của thời gian hiện lên rành rọt dưới xúc giác của cụ. Nơi cạnh nêm, hai chữ "Tâm" và "Nhẫn" mà thân phụ cụ tự tay dùng ve sắt chạm khắc từ thế kỷ trước vẫn còn hằn sâu sắc cạnh.
Nhớ lại mùa xuân năm cụ tròn hai mươi tuổi, thân phụ cụ cũng từng trao chiếc nêm này vào tay cụ bên bến sông lộng gió, dặn rằng gỗ kền kền rớt xuống nước thì chìm, chôn dưới cát thì trơ gan cùng tuế nguyệt, thợ chày đứng họ Châu sống thác cũng phải giữ lấy cái tiết tháo ấy. Một trăm năm đã trôi qua như một cái chớp mắt, bao nhiêu biến cố, giặc giã, đói nghèo trôi qua bến Sa Cần, súc nêm này vẫn vững vàng nguyên vẹn.
Cụ cất giọng khàn đặc, chậm rãi nhưng từng tiếng rành rọt như chuông đồng — Đạt… Phú… Lại gần đây với tao.
Hai anh em dạ ran, răm rắp quỳ gối xuống tấm chiếu cói trải trước mặt cụ. Cụ cố nắm lấy bàn tay to bè của Đạt đặt lên sống nêm, rồi kéo bàn tay thanh mảnh của Phú đặt đè lên ngay phía trên. Đôi bàn tay cụ bao bọc lấy tay hai đứa chắt, siết chặt lại.
— Tụi bây có thấy hai chữ khắc dưới thớ gỗ này không? — Cụ khẽ hỏi.
— Thưa Cụ Cố, là chữ Nhẫn và chữ Tâm ạ, — Đạt nghẹn ngào thưa.
Cụ gật đầu, râu tóc bạc phơ rung nhè nhẹ theo nhịp thở:— Phải. Nhẫn để giữ lề lối gia phong, Tâm để soi tỏ đường ngay nẻo chính. Trong cối máng, chiếc nêm cái cắm sâu vào lòng gỗ mít làm điểm tựa vững chãi, nêm đực trượt trên lưng nêm cái mà dấn tới nén chặt từng bánh đậu. Đạt à, con là nhánh trưởng, tính tình bộc trực, ăn chắc mặc bền, con chính là chiếc nêm cái giữ lấy cái gốc, gìn giữ kỹ nghệ tổ tông không để lung lay trước thói đời xô bồ. Còn thằng Phú, con lanh lẹ thức thời, biết nhìn ra chợ huyện thương cảng, con là chiếc nêm đực mở lối sinh nhai, đưa dòng dầu làng Nối ra ngoài tỉnh, đón lấy ngọn gió mới của thời cuộc.
Cụ dừng lại, hít một hơi sâu rồi nhấn mạnh từng tiếng — Nhưng tụi bây phải nhớ lấy lời tao: chày đứng giáng xuống ngàn cân, nếu nêm cái lỏng chân thì cối nứt, nêm đực chệch hướng thì chày gãy nát tan tành. Hai chiếc nêm mà không kẹp chặt lấy nhau, không cùng chia sẻ một nhịp đập, thì ngàn đời chẳng bao giờ ép ra nổi một giọt dầu trong leo lẻo! Bạc tiền ngoài chợ dẫu nhiều như lá rụng bến sông cũng không mua nổi tình thâm máu mủ. Ruột thịt một nhà mà ngờ vực, xâu xé nhau, thì cơ nghiệp này dẫu có trăm vò nghìn vò dầu cũng tan thành tro bụi.
Nghe lời răn dạy thấu tận tâm can, Phú không kìm được nữa, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lã chã xuống mu bàn tay chai sạn của anh họ và thớ gỗ kền kền. Phú nhớ lại những ngày mê muội toan dỡ chày bán xưởng, nhớ đêm dầm mưa Cụ Cố đem thân mình che nia đậu giống, lòng dạ trào dâng niềm hối hận khôn nguôi.
— Cụ Cố ơi, con xin khắc cốt ghi tâm lời Cụ dạy… — Phú nấc lên, rồi quay sang nhìn Đạt bằng ánh mắt tha thiết. — Anh Đạt, em thề trước vong linh tổ tiên và trước Cụ Cố, từ nay về sau em chỉ một lòng phò tá anh, cùng anh gánh vác cơ nghiệp, không bao giờ để thói tham hèn làm hoen ố cửa từ đường nữa.
Đạt cũng rưng rưng khóe mắt. Anh đưa bàn tay còn lại siết chặt lấy bờ vai người em họ, giọng run run — Chú Phú… Anh cũng có lỗi, tính anh hẹp hòi nóng nảy suýt làm gãy đổ tình thâm. Từ nay anh em mình như hai chiếc nêm này, sống chết có nhau, cùng giữ lấy lửa lò họ Châu.
Hai anh em cúi rạp người xuống chiếu, dập đầu ba lạy sát đất trước hương án uy nghiêm của tiên tổ họ Châu. Khói trầm hương bảng lảng như chở che, chứng giám cho lời thề son sắt của thế hệ cháu con. Đứng nép bên cánh cửa liếp, bác Ba Quỳ quệt vội giọt nước mắt nơi đuôi mắt nhăn nheo, còn Mai Lan khẽ mỉm cười, đôi mắt sáng lấp lánh niềm hạnh phúc sum vầy.
Cụ cố Châu Vĩnh Thuận ngả lưng vào chiếc ghế mây, khóe môi khẽ nở một nụ cười thanh thản lạ lùng. Một gánh nặng vô hình đè nặng trên đôi vai cụ suốt trăm năm qua dường như đã được trút bỏ hoàn toàn. Tiếng thở của cụ trở nên nhẹ bẫng, êm ả như dòng nước sông Trà Bồng mùa cạn. Cơ nghiệp ba đời không mất, dòng dầu thơm lành không tắt, và quan trọng hơn cả, mối tình thâm ruột thịt đã được nén chặt vĩnh viễn trong đạo lý vuông tròn, như lòng gỗ kền kền trơ gan cùng mưa nắng.
Bên ngoài hiên, màn đêm trừ tịch đã buông trùm lên dòng sông Trà Bồng và bãi dâu biếc làng Dầu Nối. Từ phía xóm chợ xa xa, tiếng pháo đón giao thừa bắt đầu nổ vang lẹt đẹt, thơm nồng mùi thuốc pháo quyện trong gió lạnh, báo hiệu khoảnh khắc đất trời chuyển mình bước sang mùa xuân mới năm 1931.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
