Chương 6: Gáo Nước Lạnh Đêm Rằm

Tiếng chuông xe đạp lanh canh hoảng loạn của con gái đã tắt lịm sau rặng phi lao nơi chân dốc, nhưng âm vang buốt nhói của nó vẫn như từng mũi kim châm thẳng vào màng nhĩ Bằng. Nắng trưa Đồ Sơn như trút lửa xuống khoảng sân đất trước cổng trường cấp hai vắng ngắt. Bằng đứng chôn chân bất động, tấm lưng áo vải bạt của ngành bảo đảm hàng hải ướt đầm mồ hôi muối, dính bết vào da thịt nóng rát.

Bọc tiền lương bậc năm cộm lên trong túi quần thô nhám, nặng trịch và bỏng rát như một hòn than nung. Anh từng ngỡ xấp tiền cotton ấy là tấm lá chắn che chở cho mẹ con Mai suốt mười năm qua, là bằng chứng đanh thép cho sự tròn vẹn của một người đàn ông làm trụ cột. Nhưng vừa rồi, đôi bàn chân gầy guộc xỏ trong chiếc dép Tiền Phong mòn vẹt đế của con bé Oanh đã giẫm nát tất cả sự kiêu hãnh hão huyền ấy. Anh thậm chí không biết con gái học lớp mấy, không biết cỡ chân con mang, để mặc con bé nhìn mình bằng ánh mắt kinh hãi như nhìn một kẻ xa lạ rắp tâm cướp đi sự bình yên của hai mẹ con.

Trong cơn bế tắc cùng cực, Bằng nghĩ ngay đến mẹ vợ—bà Tư Lành ở ngõ Cột Cờ. Xưa nay bà Tư vốn tính sắc sảo nhưng thương con quý cháu, lại thấu hiểu sự khắc nghiệt của nghề gác đèn ngoài đảo xa. Anh tin nếu mình hạ giọng giãi bày nỗi lòng, u sẽ sang xóm Bến răn bảo con Mai, kéo người đàn bà bướng bỉnh ấy nghĩ lại mà dọn về căn buồng số 12 khu tập thể.

Nghĩ vậy, Bằng lầm lũi rảo bước qua những con dốc đá quanh co dẫn sang ngõ Cột Cờ.

Ngôi nhà ngói ba gian cũ kỹ của bà Tư nằm nép dưới bóng mát của rặng cau cao vút và tán bàng rợp xanh. Khoảng sân gạch đỏ quét dọn sạch bong, phảng phất mùi trầu cay nồng quyện với hương hoa ngâu thoang thoảng. Trên bậc tam cấp trước hiên, bà Tư Lành ngồi tựa lưng vào cột gỗ lim, mái tóc hoa râm búi tó cẩn thận sau gáy bằng chiếc trâm gỗ trắc. Miệng bà bỏm bẻm nhai trầu đỏ thắm, đôi bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh đang thoăn thoắt cầm con dao bài gọt vỏ từng quả cau tươi.

Nghe tiếng bước chân nặng nề giẫm trên sân gạch, bà Tư không ngẩng lên, chỉ liếc khóe mắt nhìn chiếc bóng cao lớn đổ dài trước mặt “Ai đấy?”

“U... con sang thưa chuyện.” Bằng đứng sững ở chân bậc tam cấp, tháo chiếc mũ mềm bạc màu cầm trên tay, ngập ngừng cất tiếng.

Bà Tư khựng lại một nhịp ngắn. Chiếc dao bài trên tay bà gọt nốt miếng vỏ xanh cuối cùng rồi mới từ tốn đặt xuống miệng chiếc cơi trầu khảm xà cừ. Bà ngước nhìn người con rể to lớn, khuôn mặt già nua với những nếp nhăn hằn sâu không lộ chút biểu cảm “Anh Bằng đấy à? Trạm trưởng hải đăng Hòn Dáu quanh năm đầu sóng ngọn gió, nay rồng đến nhà tôm có việc gì trọng đại thế?”

Lời mỉa mai mát mẻ khiến cổ họng Bằng nghẹn đắng. Anh nuốt khan, bước lên nửa bước, cố nén sự ngượng ngùng để lựa lời trần tình “Con biết con đi biền biệt ngoài khơi mười năm qua là có lỗi với gia đình... Nhưng chuyện vợ chồng bát đũa còn có lúc xô xát. Mai tự tiện dắt cháu Oanh ra xóm Bến thuê gian nhà dột nát mở tiệm may, lại còn gửi đơn ly thân lên Công đoàn Ty Hàng hải, làm thế thì còn ra thể thống gì nữa u? Miệng tiếng người đời độc địa, xóm giềng người ta xì xào, bêu rếu cả dòng họ... Con sang đây, mong u lựa lời sang xóm Bến răn bảo con Mai giúp con, để mẹ con cô ấy dọn về khu tập thể cho êm ấm cửa nhà.”

Nghe đến hai chữ “thể thống” và “bêu rếu”, đôi lông mày bạc của bà Tư giật mạnh. Bà dừng hẳn động tác nhai trầu, cắm phập mũi dao bài vào chiếc cối giã trầu bằng đồng thau nhỏ xíu, tiếng “cắc” đanh gọn vang lên buốt óc.

Bà Tư chống tay vào đầu gối đứng phắt dậy, nhổ toẹt bãi bọt trầu đỏ quạch xuống rãnh nước chân cau. Đôi mắt già nua quắc lên những tia giận dữ, ngón tay trỏ run rẩy chỉ thẳng vào mặt người con rể cao lớn “Thể thống? Đến nước này mà anh còn vác cái mặt dạn mày dày sang đây đòi thể thống à anh Bằng?”

Giọng bà Tư rít qua kẽ răng đen nhánh, sắc lạnh như ngọn gió bấc đầu mùa “Anh sợ người ta bêu rếu anh, sợ mất cái mặt mũi trạm trưởng oai vệ của anh, chứ anh có bao giờ đoái hoài xem mười năm qua con Mai nó sống dở chết dở thế nào không? Anh tưởng mỗi kỳ lĩnh lương anh nhét vào tay nó mấy tờ tiền cotton, gửi về vài cân đường hộp sữa là anh đã làm tròn cái đạo làm chồng, làm cha chắc?”

Bằng sững sờ, lùi lại một bước:“U... con ở ngoài đảo quanh năm bão gió, tiền phụ cấp đảo con đâu dám tiêu một hào...”

“Anh im mồm đi!” Bà Tư quát lớn, ngực bà phập phồng sau vạt áo nâu sồng. “Đàn bà đất Đồ Sơn này lấy chồng đi khơi đi lộng đã trăm bề cực nhục, nhưng con Mai lấy anh còn khổ hơn góa bụa! Người ta đi biển dăm hôm nửa tháng còn về ghé bến, còn biết gánh cho vợ đôi thùng nước, sửa cho con cái then cửa mục. Còn anh? Anh ôm riệt lấy cái tháp đá Hòn Dáu, coi ngọn đèn biển của quốc gia là mạng sống, còn ngọn đèn lòng của người vợ đầu gối tay ấp thì anh mặc kệ cho gió bão dập tắt!”

Bà Tư bước dấn tới, từng lời đay nghiến như xé toang tấm màn sĩ diện mà Bằng cố bám víu “Anh có biết những đêm đông mưa phùn gió bấc, con Oanh lên cơn sốt co giật sùi bọt mép, con Mai phải một thân một mình cõng con chạy bộ ba cây số đường trơn như mỡ vào trạm xá không? Anh có biết những mùa mưa bão nước biển dâng ngập ngang bắp chân, mình nó bì bõm lội nước vác từng bao cát chèn mái tôn, kê từng hòm gạo, thức trắng đêm ôm con khóc ròng trong bóng tối không? Lúc ấy anh ở đâu? Thể thống của anh ở đâu? Trách nhiệm làm chồng của anh để ở xó nào?”

Từng câu hỏi của bà Tư như những gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt Bằng. Anh đứng chết lặng giữa sân gạch, hai tai lùng bùng, tim thắt nghẽn như có tảng đá ngàn cân đè nặng.

“Con gái tôi nó dứt áo ra đi không phải vì nó phụ bạc, mà vì nó đã cạn kiệt hy sinh, đã cạn khô nước mắt rồi!” Bà Tư th* d*c, giọng chùng xuống nhưng đanh thép. “Nó không bao giờ quay về cái buồng số 12 ấy nữa đâu. Tôi là mẹ đẻ nó, tôi thương con tôi, nhưng tôi bảo cho anh biết: Con Mai nó làm thế là phải! Muốn nó về à? Trừ phi anh rũ bỏ sạch cái thói gia trưởng cộc cằn, tự cúi cái đầu xuống mà nhìn thấy nỗi đau của mẹ con nó, thì hẵng nói chuyện!”

Dứt lời, bà Tư quay ngoắt người bước vào trong nhà, cánh cửa liếp đóng sập lại một tiếng “rầm” khô khốc, cắt đứt hoàn toàn tia hy vọng cuối cùng của Bằng.

Bằng lảo đảo lùi lại, hai bàn tay buông thõng run rẩy. Anh lầm lũi quay lưng bước ra khỏi ngõ Cột Cờ khi bóng chiều đã đổ sụp xuống sườn đồi.

Đêm rằm tháng sáu âm lịch, trăng tròn vằng vặc treo lơ lửng trên nền trời vịnh Bắc Bộ. Ánh trăng bàng bạc rọi xuống thị xã Đồ Sơn, nhưng khi hắt qua chấn song sắt của căn buồng số 12 khu tập thể, nó chỉ phủ lên không gian một vẻ lạnh lẽo, quạnh quẽ chẳng khác nào một gian phòng trọ tha hương.

Căn phòng trống huếch trống hoác không còn một bóng người, không một tiếng động. Chỉ có tiếng gió biển rít qua khe cửa sổ và mùi vôi vữa ẩm mốc bốc lên nồng nặc.

Bằng ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ tạp xù xì, gục đầu xuống hai bàn tay thô ráp chai sạn. Ngọn đèn hoa kỳ đặt ở góc bàn le lói ánh lửa vàng vọt, chốc chốc lại bập bùng theo từng cơn gió lọt qua khe vách. Tiếng chuông xe đạp hoảng hốt của Oanh, ánh mắt lạnh băng xa cách của Mai, và từng lời mắng mỏ như xé da xé thịt của bà Tư Lành cứ xoay vần, dội đi dội lại trong tâm trí anh.

Thất bại. Một sự thất bại ê chề và nhục nhã. Anh là một người thợ đèn kiên cường, từng dẫn lối cho hàng trăm con tàu vượt qua giông bão cập bến an toàn, vậy mà lại tự tay dập tắt ngọn đèn sưởi ấm mái ấm của chính mình.

Bằng run rẩy với tay mở chiếc ba lô bạt bạc màu đặt bên mép phản, rút ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa xanh đã sờn rách bốn góc. Đó là cuốn sổ trực nhật ký hải trình mà anh mang theo suốt mười năm gác đèn ngoài đảo Hòn Dáu.

Dưới ánh đèn dầu tù mù, anh lật giở từng trang giấy ố vàng đã quăn mép. Từng dòng chữ cứng cỏi, khô khốc hiện lên: “Ngày 12 tháng 8 năm 1985, gió đông bắc cấp sáu, triều cường dâng hai thước...”, “Ngày 4 tháng 9 năm 1989, áp thấp nhiệt đới, đèn xoay ổn định sáu vòng một phút...”. Suốt mười năm đằng đẵng, anh cặm cụi ghi chép không sót một cơn bão, một con nước lớn ròng của đại dương. Nhưng cả cuốn sổ dày cộm ấy lại tuyệt nhiên không có lấy một dòng ghi ngày sinh nhật con gái, không một chữ ghi lại những cơn đau lưng trở trời của vợ.

Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác trào ra từ khóe mắt hằn sâu vết chân chim của người đàn ông bốn mươi ba tuổi, rơi lộp bộp xuống mặt giấy đã ngả màu thời gian.

Bằng cắn chặt môi đến rớm máu. Anh lật qua hết những trang nhật ký hải trình của biển cả, tìm đến phần giấy trắng tinh phía sau—những trang giấy Bãi Bằng phẳng phiu chưa từng vướng bụi khói dầu.

Anh với tay lấy cây bút sắt ngòi lá tre, chấm sâu vào lọ mực tím đặt cạnh chân đèn hoa kỳ. Bàn tay vốn chỉ quen giật dây xích buồng đèn và siết ốc mỏ lết bỗng run rẩy lạ thường. Hít một hơi thật sâu mùi dầu hỏa nồng nặc, Bằng cúi rạp người trên mặt bàn gỗ, dồn tất cả nỗi ân hận và sự thức tỉnh muộn màng vào từng nét chữ nắn nót.

Ngòi bút sắt ấn sâu làm hằn nét mực tím lên trang giấy sờn mép: “Học gánh nước, học sửa nhà, học lắng nghe... nợ mẹ con Mai một đời, phải trả từ hôm nay.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.