Chương 1: Ngọn Đèn Đầu Sóng
“Siết chặt thêm nửa vòng ren nữa thôi, chú Thìn! Để trượt con ốc hãm này là chùm sáng tối nay lệch góc quét liền.”
Tiếng quát khàn đục của La Chí Bằng vang lên át cả tiếng kim loại va chạm leng keng bên trong buồng đèn hải đăng đảo Hòn Dáu. Chiều cuối tháng Sáu năm 1993 oi ả, hơi nóng hầm hập bốc lên từ khối đá phiến bị nung dưới nắng gắt, giam kín lấy đỉnh tháp. Lưng áo sơ mi bảo đảm hàng hải bạc phếch của Bằng ướt đẫm mồ hôi, dính chặt vào bờ vai vạm vỡ. Anh cẩn trọng lau từng mảng thấu kính Fresnel bằng tấm vải dạ mịn thấm cồn công nghiệp.
Trần Văn Thìn quệt vệt dầu luyn đen nhẻm ngang trán, thở hổn hển “Xong rồi trạm trưởng! Mâm đỡ trơn tru rồi, tối nay máy nổ chạy êm ru, bảo đảm tàu thuyền ngoài lạch nhìn rõ mồn một.”
Bằng gật đầu, lau khô bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn. Mười năm gác ngọn đèn biển tiền tiêu này, từng bánh răng, nấc thang xoắn ốc bằng gang hay mỗi con nước ròng lớn của vịnh Bắc Bộ đều nằm trọn trong lòng bàn tay anh. Với Bằng, ngọn hải đăng chính là sinh mệnh. Chỉ cần ánh đèn từ đỉnh Hòn Dáu rọi thẳng ra biển khơi, tàu bè không lạc lối giữa sóng gió, thế là anh trọn vẹn trách nhiệm.
Tiếng còi tàu tiếp tế rúc lên ba hồi dài từ phía bến đá chân đảo phá tan sự tĩnh lặng.
“Tàu hàng hải ra kìa anh Bằng!” Thìn reo lên. “Để em tụt xuống cầu cảng khuân dầu với nhận thư công vụ tháng này.”
“Đi cẩn thận, dốc đá trơn rêu đấy.”
Bằng bước ra bao lơn lộng gió nhìn về dải bờ Đồ Sơn mờ xa. Cách một hải lý sóng bạc là khu tập thể Ty Hàng hải, nơi vợ và con gái anh đang sinh sống. Mấy tháng nay bận đại tu thấu kính đón mùa bão, anh chưa về bờ. Nhưng anh chưa từng bận lòng, bởi mỗi chuyến tàu tiếp tế anh đều gửi trọn tiền lương về cho vợ. Đàn ông bươn chải nơi đầu sóng ngọn gió, đàn bà ở nhà nuôi con vun vén bếp núc, xưa nay dân biển vẫn rành rẽ như thế.
Tiếng bước chân dồn dập trên bậc thang xoắn kéo Bằng quay lại. Thìn leo l*n đ*nh tháp thở không ra hơi, mặt tái ngắt, chìa ra chiếc phong bì giấy xi măng thô ráp “Anh Bằng... có thư riêng người dưới bến gửi anh. Dưới thị xã có tin dữ lắm!”
Bằng giật lấy lá thư, xé mạnh nếp gấp. Mắt anh lướt nhanh trên những dòng mực tím lem nhem của người trưởng ban liên lạc khu tập thể “Anh Bằng ngoài đảo biết chưa? Chiều hôm kia, chị Mai thuê xe ba gác dọn sạch đồ của hai mẹ con rời khu tập thể rồi. Chị dắt cái Oanh xuống chân dốc xóm Bến thuê gian nhà dột nát mở tiệm may, tuyên bố dứt khoát sống ly thân. Đơn gửi Công đoàn Ty chị cũng đã nộp hôm qua. Anh thu xếp việc trạm về bờ gấp mà tính liệu!”
Bàn tay thô kệch của Bằng khựng lại. Chữ “ly thân” đậm đặc đập vào mắt anh buốt nhức. Máu nóng sôi trào rồi ngưng bặt, hai tai anh lùng bùng như sét đánh ngang mày.“Cái gì thế này?” Bằng lẩm bẩm, giọng run lên giữa tiếng gió rít. “Ly thân? Dọn ra xóm Bến?”
“Anh Bằng...” Thìn ngập ngừng, giọng nghẹn ứ. “Người dưới tàu kể hôm dọn đồ, xóm giềng can ngăn hết lời nhưng chị Mai không nói nửa câu. Chị chỉ lẳng lặng đi bộ theo sau chiếc xe ba gác chở chiếc máy may cũ với hòm sách của cháu Oanh dưới trưa nắng gắt...”
“Cô ấy điên rồi sao!”
Bằng gầm lên, vò nát lá thư rồi đập mạnh tay xuống bàn gỗ làm chiếc mỏ lết nảy bần bật. Ngực anh phập phồng dữ dội. Sự bàng hoàng nhanh chóng hóa thành cơn thịnh nộ của thói gia trưởng bị xúc phạm.
Mười năm qua, Bằng dãi dầu mưa nắng ngoài mũi đá Hòn Dáu, chưa từng tơ hào một cắc, chưa từng la cà rượu chè bài bạc. Lương bậc năm cùng phụ cấp hải đảo, anh chắt chiu từng tờ bạc cotton gửi trọn về đất liền, để Mai toàn quyền thu vén cho gia đình. Anh luôn đinh ninh mình là trụ cột vững vàng, bươn chải giữa sóng gió để vợ con có cuộc sống đủ đầy.
Vậy mà đổi lại là sự ruồng bỏ thế này sao? Cô ấy dám tự tiện dắt con gái rời khu tập thể, xuống xóm Bến nồng nặc mùi cá khô mở tiệm may, biến anh thành trò cười cho thiên hạ!
“Tôi làm gì sai với mẹ con cô ấy?” Bằng gằn giọng, khóe mắt vằn tia máu. “Lương tháng gửi về không thiếu một xu! Nhà cửa đàng hoàng không ở, lại dắt con đi làm thợ may xó chợ... Cô ấy coi mặt mũi tôi ra cái gì?”
Thìn thấy trạm trưởng giận dữ đến lạc giọng liền vội rót bát nước vối đưa sang, lựa lời can ngăn “Anh Bằng, anh bình tĩnh đã! Em biết anh tức, nhưng tính chị dâu xưa nay nết na, nhẫn nhịn có tiếng khắp khu tập thể. Mười năm nay chị ấy một mình nuôi con trong căn phòng vắng tanh, có bao giờ kêu ca nửa lời đâu? Nếu không phải uất ức dồn nén đến cùng cực, chị Mai chẳng bao giờ dứt áo làm vậy đâu anh.”
Bát nước vối trên tay Thìn sóng sánh phản chiếu gương mặt xám ngoét của Bằng. Lời của người đồng đội như gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn giận đang bốc hỏa trong đầu anh.
Uất ức dồn nén...
Bằng sững người, bàn tay ghì chặt mép bàn. Ký ức những lần về phép vụt qua buốt nhói. Mỗi lần về nhà, anh quen thói ngồi vắt chân hút thuốc, mặc vợ lui cui gánh nước, nhóm lò bên gian bếp ám khói. Con ốm, mái nhà dột, những đêm mưa bão gầm gào... anh đều vắng mặt. Anh đinh ninh gửi trọn tiền lương là tròn đạo làm chồng, chưa từng để tâm xem đôi mắt Mai từ bao giờ đã đượm buồn hun hút, hay vì sao cái Oanh mỗi lần thấy bố lại sợ sệt lùi vào góc tường.
Sự kiêu hãnh của người đàn ông miền biển phút chốc vỡ vụn. Mái ấm mười năm ngỡ vững chãi đã đứt phăng sợi dây neo. Căn buồng đèn bỗng ngột ngạt đến nghẹt thở. Bằng đứng ngồi không yên, bước chân bồn chồn quanh trục máy nổ khi nhận ra gia đình đang trên bờ vực tan vỡ.
Bằng bước ra bao lơn. Hoàng hôn tắt lịm, nhường chỗ cho màn đêm trùm kín mặt vịnh. Đèn hải đăng Hòn Dáu bắt đầu xoay vòng, quét vệt sáng trắng cô độc xé toạc màn đêm. Bằng siết chặt lá thư nhàu nát trong bàn tay chai sạn, đăm đắm nhìn về phía dải bờ mờ mịt của thị xã Đồ Sơn, quyết định không thể tiếp tục đứng nhìn từ đỉnh tháp đèn cô độc thêm một ngày nào nữa.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
