Chương 16: Nan Cài Nan Néo
Tảng đất phù sa sạt xuống dòng cuồng lưu phát ra tiếng “ùm” rợn người, bọt nước đỏ ngầu bắn tung tóe lên mặt Cầm Văn Trọng. Đợt sóng thứ hai hung hãn chồm lên mép gò, l**m láp đến tận chân giàn luồng tầng thứ nhất vừa xếp xong.
Trọng giật thót mình, ruột gan thắt lại. Bộ khung bè kép dài tám thước mà anh vừa dốc cạn sức vần ra mép nước đang rung lên bần bật trước sức giằng của dòng xoáy. Nếu để ngọn sóng này cuốn phăng công sức cả buổi sáng, hy vọng sống sót của cả nhà lẫn hàng chục mạng người ngoài mái đình sẽ tan thành bọt bèo.
— Chú Hải! Đỡ lấy đầu cọc ghì! — Trọng gầm lên qua màn mưa.
Không đợi em trai kịp đáp, Trọng lao phắt xuống hố bùn ngập ngang bắp chân. Đôi bàn tay thợ máy bấu chặt lấy hai thân luồng đại ngoài cùng, dùng cả bờ vai đè nghiến lên gióng cật trơn tuột. Chiếc áo xanh công nhân sờn vai căng ra theo từng nhịp th* d*c. Trọng vung chiếc rìu cơ khí thép đen, dộng thẳng sống rìu nặng trịch xuống đầu cây cọc tre đực cắm sâu vào nền gò cao, néo giữ bộ khung bè đứng vững trước ngọn sóng cuồng nộ.
Hải kịp thời lao tới, vứt vội bó lạt cật và mây rừng lên chỗ đất khô ráo rồi nhảy bổ xuống phụ anh. Hai anh em ghì chặt hai bên sườn bè, cùng gồng mình kéo giàn luồng nặng hàng tạ nhích ngược lên mé gò an toàn hơn một sải tay, vừa vặn tránh khỏi mép nước sạt lở.
Khi giàn luồng đã tạm yên vị trên gờ đất, Trọng mới thở hắt ra, ngực phập phồng đau nhức vì gắng gượng. Anh quệt vệt bùn bết trên mắt thì bàng hoàng thấy bóng cha đang tập tễnh bước ra mé bãi.
Cụ Cầm Văn Sơn một tay chống gậy tre đực, một tay giữ chặt bọc vải dầu đựng lá thư trăn trối buộc ghì chéo trước ngực áo. Cơn sốt khiến đôi môi cụ tím tái, nhưng ánh mắt cụ sáng quắc ngọn lửa kiên định phi thường. Đi sát phía sau, thím Nhẫn vừa giơ tấm cót che mưa cho cụ, vừa mếu máo can ngăn — Bác Sơn ơi, bác đang sốt hầm hập thế kia, vết thương ở cánh tay vừa rịt lá, ra ngoài này ngấm nước mưa thì nguy mất!
— Kệ tôi, thím Nhẫn! Việc cứu người như cứu hỏa, chậm một khắc là mất mạng đồng bào! — Cụ Sơn ho khù khụ một tràng dài, rồi quay sang nhìn hai con, giọng đanh lại — Mau lên hai đứa! Nước đầu nguồn đổ về xiết lắm, mái đình không trụ nổi quá cữ trưa đâu. Anh Trọng dùng thế đòn bẩy ghì luồng, thằng Hải vào lạt cật luồng với mây rừng, khóa mối néo đầu tiên ngay mạn đầu bè cho thầy!
Nghe tiếng cha giục, Trọng lập tức chấn chỉnh tinh thần. Anh luồn một thân luồng nhỏ làm đòn bẩy, kẹp chặt lấy hai thân luồng đại dài sáu thước ở góc mạn bè. Trọng dùng trọn sức nặng nửa tạ của thân thể tì lên đòn bẩy, hai bàn tay gân guốc vốn quen ghì cờlê và kìm nguội siết chặt lấy điểm tựa, ép hai thân luồng cọ vào nhau ken két, không để hở một li nào.
Hải quỳ sụp bên mép bè, ngón tay cái bàn tay phải dù rách toạc rớm máu vẫn thoăn thoắt nhặt lấy dải lạt cật luồng dày bốn li, bản to hai phân vừa chuốt ban nãy. Dưới sự chỉ huy từng khẩu lệnh của cụ Sơn, Hải luồn sợi lạt cật kết hợp với dây mây rừng ngâm mềm qua khe hở giữa các gióng luồng.
Trọng nín thở chăm chú dõi theo từng cử động của em trai và lời chỉ dẫn của cha. Từ trước tới nay, Trọng chỉ tin vào sức mạnh của bulông, đai ốc, những thanh giằng thép tôi cứng và mối hàn hồ quang điện ở trạm cơ khí Hợp tác xã. Trong mắt anh, những nong né bồ cót của cha chỉ là thứ đan lát vụn vặt, mỏng manh của chốn thôn dã, chẳng thể nào chịu nổi va đập cơ học ngàn cân.
Thế nhưng ngay lúc này, một điều kỳ diệu của nghề thủ công gia truyền đang hiển hiện trước mắt anh.
Hải đưa dải lạt cật luồng đan lồng cùng sợi mây dẻo chéo góc đúng bốn mươi lăm độ. Từng sợi cật luồng bóng ngời lướt qua ngón tay Hải, gập ngược đầu đuôi, móc xoắn vào nhau theo thế “nan cài nan néo”. Mười mối nan đan lồng đa tầng tạo thành một mắt xích tự khóa liên hoàn, không cần đến một chiếc đinh sắt hay sợi dây kẽm nào.
— Anh Trọng nhả đòn bẩy ra! — Cụ Sơn cất tiếng hô.Trọng buông tay khỏi đòn bẩy. Lực bung của hai thân luồng đại ngâm bùn sáu tháng lập tức bật mạnh ra ngoài, toan xé toạc liên kết. Trọng thót tim, sợ nút thắt đứt phựt. Nhưng không! Hai thân luồng vừa giằng ra thì dải lạt cật và sợi mây rừng lập tức co thắt lại, mép cật luồng cắn chặt vào lớp vỏ thân luồng, mối néo tự siết cứng ngắc như một khối đúc liền mạch. Thân luồng càng gồng mình bung nở bao nhiêu, mối néo cật luồng càng bện ghì khít khao bấy nhiêu, không hề rạn nứt hay xê dịch dù chỉ nửa phân.
Nhìn mắt nan néo đầu tiên hoàn thành vững như bàn thạch, lồng ngực Trọng rung lên chấn động dữ dội. Anh bàng hoàng nhận ra sự nông cạn và thiển cận của bản thân bấy lâu nay. Đinh sắt gặp lực giằng xoắn cực đại của sóng lũ sông Mã sẽ gãy ngang vì quá giòn; dây thép cứng gặp va đập liên hồi sẽ mỏi kim loại rồi bứt đứt. Chỉ có nan mềm bện xoắn đa tầng mới triệt tiêu được ứng suất của dòng nước dữ, lấy sự dẻo dai đàn hồi để hóa giải sức mạnh ngàn cân của cuồng lưu.
Đó không chỉ là kỹ thuật chế tác, mà là triết lý sống, là tinh hoa máu thịt mà người cha già một đời lặng lẽ chắt chiu bên thềm gạch rêu phong.
— Tốt lắm! Cứ thế mà làm, mối thứ hai, mối thứ ba… mười mối phải khóa liền một dải! — Cụ Sơn mỉm cười, đôi mắt rưng rưng nhìn hai người con.
Bức tường ngăn cách vô hình bấy lâu giữa người thợ máy tôn sùng kỷ luật sắt đá và cậu em trai chạy chợ buôn chuyến bỗng chốc tan biến như sương khói. Không còn ai nhắc đến những lời cay nghiệt tối qua, không còn mặc cảm hay tị hiềm. Trọng và Hải lao vào công việc như một khối thống nhất.
Trọng dùng sức vóc hộ pháp của mình ghì giữ từng gióng luồng đại, làm điểm tựa vững chãi nhất cho em trai; còn Hải đem trọn sự lanh lẹ luồn lách từng nút thắt qua những khe hẹp nhất. Cứ mỗi lần Trọng hô “khóa!”, Hải lại gập mối mây, kéo sợi lạt cật kêu “ro ro”, đan lồng mười mối nan néo ôm ghì lấy bộ khung xương bè. Tiếng búa gỗ gõ thùm thụp hòa cùng tiếng th* d*c đều đặn của hai anh em, tạo nên một nhịp điệu lao động hối hả, kiên cường giữa trời mưa bão.
Mười mối néo đại kiên cố lần lượt thành hình, khóa chặt tầng luồng thứ nhất rồi vươn lên tầng luồng thứ hai. Đến gần trưa, bộ khung bè kép hai tầng dài tám thước đã hoàn thành vững chắc. Trọng cùng Hải khẩn trương trải ba lớp cót tre kép dày dặn lên trên sàn bè để chắn sóng và ngăn nước lũ phù sa dội vào khoang, rồi dùng các dải mây néo chặt các góc cót vào thân bè.
Chiếc bè mảng khổng lồ sừng sững hiện ra bên mé bãi, bề thế tựa một pháo đài nổi bằng tre luồng xanh biếc, hiên ngang giữa dòng lũ đỏ ngầu.
Trời ngả về trưa, mưa bắt đầu thưa hạt nhưng mây đen vẫn trĩu nặng trên nền trời ảm đạm. Cụ Sơn đứng tựa gậy bên mép nước, bàn tay run run đặt lên vai Trọng rồi vuốt nhẹ lên cánh tay rớm máu của Hải, ánh mắt đong đầy niềm kiêu hãnh và xúc động nghẹn ngào.
Bỗng nhiên, một hồi kẻng báo động dồn dập, xé lòng gõ từ vỏ đạn pháo vang lên từ phía hạ lưu sông Mã, nơi ngôi đình làng Cồn Cát đang ngập chìm trong biển nước.
Ngay sau tiếng còi, một âm thanh đổ gãy kinh hoàng dội tới: “RẮC… ẦM!” Cột cái gian tiền tế đình làng đã bị dòng xoáy cày gãy, cả mái ngói chao nghiêng dữ dội. Giữa làn mưa mờ mịt, tiếng trẻ con gào khóc, tiếng người già kêu cứu chới với dội lại từng chặp thảm thiết.
Không còn một giây nào để chần chừ nữa!
Trọng quay sang nhìn Hải, hai ánh mắt chạm nhau bừng lên ngọn lửa quyết tử. Hai anh em đồng thanh hét lớn một tiếng vang động cả khúc sông — Đi thôi!
Trọng và Hải cùng tỳ hai bờ vai vạm vỡ vào then lái và đuôi bè, dốc cạn sức bình sinh đẩy chiếc bè mảng khổng lồ lao mình xuống dòng phù sa sông Mã đang sôi sục cuồng phong.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
