Chương 6: Nhát Nạo Tầng Son
Chúc Đình Tín giật nảy bàn tay về phía sau như vừa chạm phải than hồng. Lồng ngực ông nghẹn ứ, sống lưng lạnh toát dưới làn gió buốt lùa qua khe liếp. Trên đầu những ngón tay chai sần, cảm giác ấm nóng ma quái cùng nhịp dội thổn thức vẫn râm ran nhảy múa dưới lớp da sạm đồi mồi. Một pho tượng hộ pháp bằng gỗ mít bọc chín tầng sơn then, ngự nơi khám thờ u tịch suốt ba mươi năm, cớ sao lại có thể đập những nhịp phập phồng run rẩy tựa hồ trái tim của một người sống?
Lão thợ cả lùi lại hai bước, trên trán rịn ra những giọt mồ hôi lạnh.
“Ông nội ơi… tay ông run quá?”
Tiếng gọi khe khẽ của Tiểu Lạc kéo ông về thực tại. Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn ngập tràn âu lo của cháu, Chúc Đình Tín nén nỗi kinh hoàng xuống đáy lòng, khẽ xoa đầu đứa cháu côi cút “Không sao đâu, Tiểu Lạc. Chỉ là khí lạnh của gỗ mục ngấm vào thớ thịt thôi.”
Miệng nói vậy, nhưng Chúc Đình Tín thấu rõ hơn ai hết. Nơi Thâm Uyển này chính là tử địa kẹp giữa oán linh cuồng nộ và lòng dạ hiểm độc của Nghiêm Bá Hoài. Tà thuật “Huyết Cốt Khảm Khám” dùng sơn sống táng người đã giam cầm một oan hồn suốt ba mươi năm ròng rã. Nay lớp vỏ nứt toác, tử khí và độc sơn ắt sẽ bùng phát dữ dội. Sơ sẩy một chút, chất độc kia không chỉ hủy hoại đôi bàn tay thợ mà còn cướp mạng cả hai ông cháu trước khi chạm tới công đạo.
“Tiểu Lạc, nhóm thêm than vào lò cho ông.” Chúc Đình Tín dứt khoát quay về góc phòng. “Chúng ta phải luyện mẻ cao thuốc hộ thân trước khi động dao.”
Cậu bé nhanh nhảu dùng que khều than đỏ, chiếc bễ nhỏ kêu phì phò đều đặn. Chúc Đình Tín mở bọc vải thô, trút vào cối đá hoa cương một vốc tro vỏ nghêu nung trắng mịn, nắm lá chàm gai phơi khô cùng rễ me đất xắt mỏng. Đôi bàn tay thoăn thoắt vung chày, tiếng giã “thùm thụp” nhịp nhàng át đi tiếng gió rít qua rào trúc gai. Khi bột thuốc đã mịn như cám, ông đổ vào nồi đất đặt trên bếp than, hòa thêm một muỗng sáp ong rừng và vài giọt dầu tràm. Lửa than liu riu làm bốc lên làn khói thơm cay nồng, thanh mát. Thứ cao thuốc màu xanh sẫm dần sánh lại mịn màng như mỡ gà.
Chờ thuốc nguội bớt, Chúc Đình Tín cẩn trọng miết từng lớp cao dẻo quánh vào kẽ móng, khớp ngón tay thô ráp của mình—nơi sơn rừng dễ ngấm vào xương tủy nhất. Đoạn, ông kéo Tiểu Lạc lại gần, lấy dải lụa mỏng chấm cao thuốc thoa nhẹ quanh hai bên cánh mũi của cháu.
“Ngửi thấy mùi thanh mát này thì chướng khí mới không xâm lấn buồng phổi.” Ông Tín ân cần dặn dò: “Lát nữa ông hạ dao nạo cốt, dù nghe thấy âm thanh gì hay ngửi thấy mùi lạ nào, cháu cũng phải ngồi yên cạnh bếp than hồng, tay giữ chặt túi gấm, tuyệt đối không được bước tới gần khám thờ nửa bước. Nhớ kỹ lời ông chưa?”
Tiểu Lạc hít sâu mùi thảo mộc thơm dịu, gật đầu quả quyết “Dạ, cháu nhớ rồi ạ. Cháu sẽ ngồi canh lửa cho ông, không chạy lung tung đâu.”
Qua khe rào trúc gai ken dày đặc, bốn tên gia đinh lăm lăm côn gỗ bịt đồng vẫn lượn lờ dòm ngó qua từng kẽ vách. Không chút bận tâm đến lũ tay sai, Chúc Đình Tín bê chiếc ghế đẩu mộc đặt trước bệ thờ khám gỗ thị, bày một bát nước giếng trong vắt cùng ba nén hương trầm mộc mạc. Đánh lửa châm hương, ba đốm đỏ bừng sáng, tỏa khói mỏng uốn lượn giữa không gian ẩm mốc.
Chúc Đình Tín chắp hai bàn tay dính vệt then đen nhánh trước ngực, khom lưng cung kính vái ba vái sâu trước pho tượng hộ pháp sáu thước “Hồn thiêng ngự chốn thâm u… Lão thợ Chúc Đình Tín cả đời giữ trọn đạo nghề sơn ta, lấy chữ Tâm làm gốc, chưa từng mạo phạm quỷ thần. Nay nhận việc vá vết nứt ngực tượng, mắt đã thấy huyết dịch rỉ trào, tai đã nghe tiếng kêu oan khuất. Hạ dao lần này, lão thợ không màng mười lượng bạc thưởng, chẳng cầu danh lợi, chỉ muốn dùng ngón nghề gia truyền bóc trần màn tối, đưa chân tướng ra trước thanh thiên bạch nhật. Oan có đầu, nợ có chủ, xin vong linh người đã khuất rủ lòng chứng giám, chở che cho hai sinh mạng côi cút qua cơn bĩ cực, chớ để oán hỏa thiêu đốt kẻ vô can…”
Lời khấn vừa dứt, một làn gió xoáy kỳ dị từ đâu thổi thốc qua khe liếp, khiến ngọn lửa ba nén hương bỗng rực lên ánh xanh biếc. Tàn hương không hề rơi rụng mà kết thành những dải xoắn tròn lơ lửng, mùi máu tanh nồng nặc trong gian chái dường như dịu bớt đôi phần.
Chúc Đình Tín bước lên bục gỗ. Từ trong hòm đồ nghề cũ kỹ, ông rút ra thanh dao nạo bằng thép tôi nguội—vật tùy thân gắn bó hơn bốn mươi năm bôn ba khắp các đền chùa phủ đệ. Lưỡi dao dài nửa thước, uốn cong mềm mại tựa lá lúa nhưng sống dao dày dặn, mép thép bén ngót ánh lên sắc lạnh.Hít sâu luồng khí thảo mộc nơi đầu mũi, Chúc Đình Tín định thần, ghìm chặt chuôi dao bằng cả hai tay. Ngón nghề bọc tượng truyền đời đòi hỏi người thợ phải cảm nhận từng thớ gỗ qua lưỡi thép; nạo quá cạn thì không sạch lớp hỏng, nạo quá sâu sẽ phạm vào cốt tủy bên trong.
“Xoẹt… sột soạt…”
Mũi dao cẩn trọng hạ xuống mép vết nứt dài hai thước nơi ngực trái của tượng. Lực cổ tay lão thợ già vững như bàn thạch, khéo léo bóc tách lớp vàng quỳ thếp óng ả ngoài cùng. Từng mảng vàng quỳ mỏng manh như cánh ve rụng lả tả, bay lơ lửng rồi đáp nhẹ xuống manh chiếu cói.
Lớp vàng thếp vừa tróc đi, tầng sơn son đỏ rực lập tức lộ ra. Nhưng thay vì sắc son tươi thắm của đồ thờ cúng tôn nghiêm, tầng sơn này lại mang màu đỏ sẫm ám muội, bết dính và nham nhở như máu khô lâu ngày chìm dưới bùn lầy. Mũi dao lướt đến đâu, chất son cộm lên sần sùi đến đó.
Không dừng lại, Chúc Đình Tín xoay cổ tay, ấn nhẹ mũi thép lách sâu thêm một phân. Dưới tầng sơn son là tầng sơn then đen nhánh quánh đặc—lớp bảo vệ cốt lõi được tôi luyện từ nhựa sơn sống đánh chín ngày chín đêm trong thùng gỗ mít. Lớp sơn then này dày cộp, đen bóng như đá huyền thạch và trơ cứng lạ thường. Mũi dao thép miết qua phát ra tiếng “ken két” ghê rợn, tia lửa li ti bật ra le lói trong bóng mờ của khám thờ.
Bằng kinh nghiệm nửa đời người, Chúc Đình Tín rọc một đường chữ thập quanh miệng vết nứt, dùng đầu dao bẩy nhẹ từng mảng vảy sơn then quánh đặc.
“Tách!”
Một tiếng nổ lách tách khô khốc vang lên từ sâu trong cốt gỗ mít.
Mảng sơn then to bằng bàn tay bất ngờ nứt toác, tróc vảy rơi xuống đất. Đúng khoảnh khắc ấy, một luồng hắc khí đặc quánh như khói bồ hóng màu xám tro từ kẽ nứt cuồn cuộn phụt thẳng ra ngoài. Mùi xú uế thối rữa kinh hoàng tích tụ suốt ba mươi năm trong ruột tượng xộc thẳng ra gian phòng, mang theo hơi lạnh buốt thấu xương tủy và mùi tử khí của thi thể rữa nát quyện chặt nhựa sơn mục.
Thứ mùi thối rữa nồng nặc tích tụ hàng chục năm ấy dữ dội đến mức Chúc Đình Tín dù đã bôi cao thuốc phòng độc vẫn cảm thấy lồng ngực nhộn nhạo, màng nhĩ lùng bùng suýt ngã khỏi bục gỗ. Tiểu Lạc ngồi bên bếp than vội đưa tay bịt chặt mũi, đôi mắt ứa lệ vì cay xè.
Bên ngoài sân gạch, luồng gió độc thốc qua kẽ rào trúc gai tạt thẳng vào mặt đám gia đinh gác cổng. Bốn tên tay sai lực lưỡng đang vênh váo bỗng chốc ôm lấy cổ họng, mắt trợn trừng, ho sặc sụa từng cơn nôn mửa thốc tháo.
“Ọe… Mùi… mùi quỷ quái gì thế này? Thối… thối chết mất thôi!”
“Trời đất ơi… như mùi xác chết trôi sông… Ọe!”
Tiếng kêu la thất thanh vang lên náo loạn. Đám gia đinh vứt cả gậy gộc, ôm mũi cắm đầu cắm cổ dạt lùi ra tận bụi vông gai nơi góc vườn rậm rạp, không một tên nào dám bén mảng lại gần cánh cổng viện Thâm Uyển thêm nửa bước.
Bên trong gian chái, ngọn đèn dầu lạc leo lét chao đảo dữ dội trước luồng âm khí hung hãn. Nén cơn buồn nôn đang dâng lên cổ họng, Chúc Đình Tín vội vàng nâng ngọn đèn dầu áp sát vào vết nứt ngực tượng vừa bị bóc vảy.
Dưới tầng sơn then đen nhánh vừa tróc vảy, một kẽ hở sâu hoắm hiện ra trong lòng cốt gỗ mít, để lộ những sợi vải xô gai cổ xưa tẩm máu khô đã kết thành từng mảng đen đặc như bồ hóng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
