Chương 21: Mũi Xẻng đắp Phù Sa
Minh Đăng nép sát người vào vách nứa chái bếp, hai mắt không rời bóng người vạm vỡ vừa bước qua rào râm bụt. Trời sập tối nhanh như một cái chớp mắt, bóng tối nhạt nhòa phủ lên dáng đi hơi nghiêng của chú Tấn. Tiếng bì bõm dưới chân chú dứt hẳn khi đôi bàn chân bè to bám đầy đất bùn khô bước lên khoảng sân trước hàng ba.
“Phập!”
Chú Tấn buông tay, cắm phập lưỡi xẻng sắt xuống nền đất ẩm sát mép thềm. Cán gỗ tràm rung lên bần bật rồi đứng sững. Chú đứng chôn chân ở đó, hai vai xuôi xuống, đầu hơi cúi. Cụ Hằng vẫn ngồi yên trên chiếc chõng tre bên mé hiên, hai bàn tay đồi mồi đặt hờ trên mớ cuống sen chưa tước hết, ánh mắt bình thản đón lấy người hàng xóm.
“Bà Hằng...” Tiếng chú Tấn cất lên, khàn đặc như nghẹn khói, khác hẳn cái giọng rổn rảng át tiếng sóng nước ban trưa.
Cụ Hằng không đáp, chỉ khẽ gật đầu, chờ đợi.
“Hồi chiều... tui chạy chiếc vỏ lãi một mạch ra chợ ngã ba thị trấn.” Chú Tấn đưa bàn tay thô ráp quệt ngang trán, để lại một vệt bùn non lem luốc. “Tui đem trả đứt năm triệu bạc tiền cọc cho mấy thằng lái cá lóc rồi. Tui nói với tụi nó, đất này là đất của tổ tiên giáp ranh với ruộng sen nhà cụ Hằng, ranh giới có từ đời ông già tui với cụ Lộc, một tấc cũng hổng bán, một ly cũng hổng đào ao xáng cạp gì hết.”
Minh Đăng hé mắt nhìn qua kẽ nứa, thấy chú Tấn bước thêm một bước lại gần thềm, hai tay buông thõng “Tui có lỗi với vong linh ông già tui, có lỗi với bà. Hồi trưa ngoài mé ruộng, lòng tham năm triệu bạc làm tui mờ mắt suýt nữa bứng cọc, vác xẻng chém đứt cái nghĩa cái tình chòm xóm bấy lâu. Nếu bà không nhắc lại chuyện bơ gạo sen cứu đói năm Thìn, chắc tui thành đứa thất đức mất rồi. Mong bà rộng lòng bỏ quá cho tui.”
Cụ Hằng lặng thinh nhìn người đàn ông luống tuổi đang cúi đầu trước mặt mình. Một cơn gió đêm thổi qua rặng dừa nước, mang theo mùi bùn ngấu nồng nàn. Cụ thở ra một hơi dài, giọng rành rọt mà ấm áp “Mày biết nghĩ tới mồ mả người xưa, biết giữ lấy cái gốc rễ bờ ruộng là tao mừng rồi, Tấn à. Ruộng đồng xứ mình phèn nặng, sống nhờ con nước lớn nước ròng, người với người không che chở cho nhau thì sóng gió nó cuốn trôi sạch. Lỗi lầm biết sửa là quý, ngồi xuống uống hớp nước mưa cho mát ruột đi nghen mày.”
Đúng lúc ấy, ngoài bến nước vang lên tiếng khua dầm đều đặn. Ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn bão treo đầu mũi xuồng ba lá hắt lên mặt kênh đỏ quạch. Trưởng ấp Tư Bình và cán bộ Nguyễn Văn Sơn xách cặp da, chống sào bước lên bờ. Thấy chú Tấn đứng cạnh thềm, cán bộ Sơn mỉm cười, mở nắp cặp lấy ra tờ biên bản hòa giải còn nồng mùi mực mới.
“Anh Tấn có mặt ở đây thì hay quá rồi!” Cán bộ Sơn đặt tờ biên bản hòa giải lên chiếc bàn con, dưới ánh đèn bão sáng tỏ. “Bốn hộ đã ký và điểm chỉ đủ. Biên bản xác lập rõ ranh giới năm hộ dựa theo hệ thống cọc tràm ngầm năm 1976 của cụ Lộc để lại. Bây giờ chỉ còn chờ chữ ký của anh nữa là thủ tục địa chính coi như trọn vẹn.”
Chú Tấn không ngần ngại, chùi mạnh hai bàn tay vào ống quần cộc, bước tới cầm lấy cây bút kim tinh từ tay cán bộ Sơn. Bàn tay thô kệch quen cầm mái dầm và cán cuốc của chú hơi ngượng nghịu gập ngón tay, nắn nót ký từng nét chữ “Nguyễn Văn Tấn” vào góc dưới cùng bên phải tờ giấy. Ký xong, chú ấn mạnh ngón tay cái vào khay mực đỏ, dằn một vết điểm chỉ tròn trịa, dứt khoát bên cạnh chữ ký.
Trưởng ấp Tư Bình vỗ đùi đánh đét “Tốt quá rồi! Nút thắt hai mươi năm coi như mở xong! Giờ thì lo việc trước mắt: nước thượng nguồn đang dâng mau lắm, sáng mai cả xóm phải dốc sức đắp lại bờ bao mé Đông!”
Chú Tấn quay sang nhìn cụ Hằng và mọi người, giọng chắc nịch “Bà con cứ yên lòng. Sáng mai đúng giờ gà gáy le te, tui vác xẻng ra mé Đông đầu tiên. Ai trễ tui xốc đất trước ráng chịu!”
Mọi người cùng bật cười, tiếng cười ấm ran cả góc sân tối.
Tờ mờ sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy le te rộ lên khắp xóm và sương mù còn giăng mờ mịt trên mặt đồng ngập nước, tiếng gọi nhau í ới đã vang rộn đầu kênh.Minh Đăng dậy từ lúc trời còn tối đất. Nó xắn cao ống quần bà ba, cẩn thận quàng chiếc khăn rằn cũ màu cháo lòng của ông nội quanh cổ, thắt nút ngay ngắn trước ngực như lời bà dặn tối qua. Nó bước chân trần theo cụ Hằng xuống bến, lội theo bờ đất trơn trượt ra mé bờ bao phía Đông.
Cảnh tượng ngoài đồng nhộn nhịp như ngày hội mùa. Đoạn bờ bao bị dòng lũ xé toạc dài hơn một sải tay, sâu hoắm lút bùn, nay được vây quanh bởi hàng chục con người cùng cuốc xẻng, sọt cần xé và cọc tràm.
“Đóng hàng cọc cừ mé ngoài trước, anh Cương ơi!” Tiếng chú Tấn oang oang chỉ huy giữa làn gió sớm.
Anh Võ Kim Cương m*nh tr*n trùng trục, da đen bóng nhẫy vì dầm nước, hai tay ôm từng khúc tràm già lõi đỏ vót nhọn đầu, dầm mình xuống làn nước sâu tới bụng. Cứ mỗi nhát vồ gỗ nện xuống đầu cọc tràm, bọt nước lại bắn tung tóe. Mấy chục cây tràm già được cắm ken dày thành hai hàng song song, tạo thành cái khung vững chãi chắn sóng dữ từ phía lòng kênh.
Từ mé giồng cao, hai chiếc xuồng cui của mẹ con thím Bảy chở đầy những tảng đất thịt dẻo quánh lướt tới. Thím Bảy thoăn thoắt cắm sào giữ mũi xuồng, ba đứa con nhỏ của thím đứa bưng đứa xúc, chuyền từng mảng đất nặng trịch sang bờ bao.
“Tiếp đất vô giữa hàng cọc nè chú Tấn, ông Phước ơi!” Thím Bảy reo to, mồ hôi ướt đẫm trán nhưng miệng cười tươi rói.
Ông Phước và chú Tấn đứng đối diện nhau ở hai đầu mép lở, mỗi người một chiếc xẻng sắt. Lưỡi xẻng của chú Tấn thoăn thoắt xắn từng tảng đất thịt từ xuồng cui, quăng đều tay vào giữa hai hàng cọc cừ tràm. Ông Phước cầm vồ gỗ nện thình thịch lên từng lớp đất, tiếng cười nói hòa cùng tiếng xẻng va vào đất bùn nghe rộn rã lạ thường.
Minh Đăng không đứng nhìn. Nó lội bì bõm dưới làn nước ngang đầu gối, đôi tay thoăn thoắt phụ người lớn ken những tấm đăng tre vào giữa các khe cọc tràm để giữ không cho bùn trôi dạt. Rồi nó quay sang đón từng bó rơm rạ khô cùng lá sen già do cụ Hằng bó sẵn trên bờ, cẩn thận dìm sâu xuống đáy bùn, chèn chặt dưới chân cọc để làm lớp đệm giữ đất non.
Đôi bàn tay nhỏ nhắn của Đăng luồn sâu trong bùn, khéo léo móc từng sợi lạt giang buộc chặt các thanh đăng. Chú Tấn đứng trên bờ bao cúi nhìn xuống, mắt ánh lên vẻ tán thưởng “Thằng nhỏ coi vậy mà tay chân lanh lẹ quá chừng! Đăng nè, lên bờ nghỉ tay bưng giùm chú ấm nước coi!”
Đăng dạ một tiếng thật giòn. Nó rửa vội bùn trên tay dưới làn nước trong, chạy thoăn thoắt lại chỗ bóng râm rặng điên điển, bưng ấm nước chè xanh nghi ngút khói cùng mấy chiếc bát sành mang lại mé đê.
Chú Tấn tựa cán xẻng vào đùi, đón lấy bát nước chè xanh từ tay Đăng, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch. Chú đưa bàn tay to bè, ấm sực và còn dính phù sa vỗ nhè nhẹ lên mái tóc húi cua của thằng bé “Thằng nhỏ giỏi lắm! Bữa qua không có mày lội nước rà trúng mấy cái cọc tràm của ông Lộc, tao đui mù suýt nữa làm điều bậy bạ. Từ rày về sau, ai dám ăn h**p hai bà cháu mày thì cứ kêu chú Tấn!”
Thím Bảy đang ghé xuồng bên cạnh cũng cười giòn tan, đưa tay véo nhẹ má nó “Bữa nay thằng Đăng nhà mình thành thợ đắp bờ bao cừ khôi rồi nghen! Mai mốt tha hồ mà giữ ruộng sen cho bà nội!”
Minh Đăng đứng giữa bờ đê lộng gió, khẽ đưa tay sờ vào mép chiếc khăn rằn của ông nội đang quàng trên cổ. Một cảm giác ấm áp lạ lùng dâng ngập lồng ngực non nớt. Nó không còn thấy tủi thân vì cảnh côi cút nữa. Giữa những giọt mồ hôi, tiếng xẻng nện bùn và những nụ cười xởi lởi của xóm giềng, nó biết mình đã thực sự thuộc về mảnh đất này.
Trời đứng bóng. Đoạn bờ bao mé Đông dần được đắp cao thêm, từng lớp đất sét trộn rơm rạ được nện chặt chẽ, cao hơn mặt nước gần bảy tấc. Mọi người quẹt mồ hôi, miệt mài gọt lại mép bờ cho thẳng thớm.
Vừa lúc chú Tấn vung xẻng nện chặt tảng đất cuối cùng xuống mặt đê, từ phía thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây bỗng dội về những tiếng ầm ào trầm đục.
Mặt nước kênh đang phẳng lặng liền dềnh lên từng đợt sóng cuồn cuộn. Gió thốc mạnh qua rặng tràm, mang theo tiếng sóng vỗ ì oạp dữ dội dội về chân bờ bao. Con nước lũ đỉnh triều đỏ ngầu phù sa hung hãn tràn tới, cuộn bọt trắng xóa, áp sát sạt vào chân con đê vừa mới đắp còn ướt rượt bùn non.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
