Chương 16: Tiếng Nói Của Người Làm Chứng
Tiếng “cộc” khô khốc dội thẳng vào tai cụ Hằng giữa khoảng không gian ngập lũ. Cả vạt đồng ba mẫu hai công như ngưng bặt tiếng động, chỉ còn tiếng nước tràn qua vạt đê sạt lở ùng oang từng chặp.
Cụ Hằng hít một hơi sâu, buồng phổi già nua đượm nồng vị bùn ngấu và mùi lá tràm ngai ngái bốc lên từ mặt ruộng. Hai bàn chân trần của bà bấm sâu vào tầng bùn nhão, lách qua gốc rạ chìm dưới đáy nước để bước tới cạnh cháu trai. Nước ngập ngang hông, vạt áo bà ba đen sờn vai ướt sũng dính chặt vào da thịt lạnh buốt, nhưng sống lưng cụ vẫn thẳng tắp như thân tràm già cỗi.
Đưa bàn tay đồi mồi gân guốc đỡ lấy thân sào tre từ tay thằng Đăng, cụ Hằng ghìm đầu sào đứng vững giữa dòng nước xiết. Thằng Đăng ngước nhìn bà, ánh mắt trong veo còn đọng vẻ căng thẳng sau cú dộng sào. Cụ khẽ gật đầu trấn an cháu, rồi xoay người về phía cán bộ Sơn và những người đứng trên mép ruộng.
Bằng những ngón tay dẻo dai quen nghề tước gân sen suốt mấy mươi năm, cụ Hằng vạch nhẹ từng cuống sen xanh ngọc đang dập dềnh trên sóng, nâng một phiến lá tròn trịa đặt lên mặt nước cho mọi người cùng nhìn rõ “Bà con nhìn cho tường tận. Lá sen hồng Tháp Mười thì phiến nhám, cuống mọc gai rậm rịt để chống chọi với cá tôm rỉa. Còn cụm sen này, mép lá lượn sóng mềm mại, cuống trơn nhẵn như đọt măng non, hoa trổ muộn vào xế chiều. Đây là giống sen trắng xứ này, thứ giống ông Lộc đem từ rốn đồng sâu về cấy từ hai mươi năm trước. Không phải thứ sen tạp trôi nổi theo con nước.”
Lời cụ rành rọt, từng tiếng thả vào không gian ẩm ướt như những nhát búa nêm gỗ ép dầu sen gia truyền. Cán bộ Sơn xắn quần lội bì bõm tới gần, cúi sát nhìn phiến lá lượn sóng, rồi mở cuốn sổ tay và tấm bìa cáctông vẽ than củi ra đối chiếu “Đúng là phiến lá lượn sóng, không có gai nhám như ghi chép,” Sơn gật đầu, ngón tay lần theo nét mực cổ của ông Hứa Văn Lộc.
“Khoan đã!”
Nguyễn Văn Tấn hùng hổ xông tới, hai chân đạp nước làm sóng sánh tung tóe bọt đỏ quạch. Gương mặt Tấn đỏ bừng vì nắng gió và giận dữ, khóe miệng giật giật khi nhìn đầu sào tre đang cắm chặt dưới đáy bùn. Tay cầm chiếc xẻng sắt vung vẩy, Tấn lớn giọng “Bà Hằng, bà tính lấy một cọng cỏ dại dầm dề dưới nước ra mà bịp mắt chính quyền với chòm xóm hả? Mùa nước nổi mênh mông trời đất, rác rưởi ngó sen trôi dạt từ miệt trên xuống đầy đồng, nó tấp vô gốc điên điển rồi mọc thành bụi thì có gì lạ! Còn cái tiếng cộc hồi nãy, ai mà biết dưới bùn lầy là nhánh tràm mục trôi sông hay rễ cây điên điển ăn ngầm? Đất đai mồ hôi nước mắt của nhà tui, đâu thể để một đứa con nít chín tuổi cầm cây sào chọc bậy chọc bạ mà cướp mất một tầm sào!”
Tấn vừa nói vừa trừng mắt nhìn Minh Đăng. Thằng bé rụt cổ lại, lùi nửa bước nép sát vào hông cụ Hằng. Cụ đưa tay ôm nhẹ lấy bả vai gầy của cháu, ánh mắt phẳng lặng nhìn thẳng vào lưỡi xẻng lăm lăm trên tay người hàng xóm “Thằng Tấn, mày nói sen trôi dạt ngẫu nhiên? Trôi dạt kiểu gì mà thành hàng thẳng tắp từ mé bờ bao kéo vô tới rặng gáo nước, năm bụi sen cách đều nhau đúng hai sải tay? Mày sống ở cái xóm Tân Bình Thạnh này từ nhỏ, mắt mày đâu có mù mà không thấy?”
“Tui không cần biết thẳng hay cong!” Tấn gầm lên, giọng đanh lại đầy vẻ ngang ngược. “Không có giấy má mộc đỏ của xã thì sen trắng hay sen tím gì cũng là đồ bỏ! Để tui xắn phéng cái bụi sen này quăng đi, rồi lấy cọc sắt giăng dây chia đôi theo mé lúa tràn cho rảnh nợ!”
Nói đoạn, Tấn vung chiếc xẻng sắt toan cắm phập xuống gốc sen trắng. Nước bùn bắn tung tóe lên cả vạt áo cụ Hằng.
“Anh Tấn, dừng tay lại! Không được phá hoại hiện trường!” Cán bộ Sơn nghiêm giọng quát lớn, bước lên chắn trước mũi xẻng.
Nhưng Tấn đang cơn bốc hỏa, cơ bắp cuồn cuộn trên cánh tay vẫn chực bổ xuống để xóa sạch dấu vết. Thím Bảy trên mé đê la thất thanh: “Trời đất ơi, chú Tấn làm cái gì vậy!”
Giữa lúc thế trận căng như sợi dây gai sắp đứt, một tiếng rẽ nước ào ào gấp gáp vang lên từ mé sau lưng đoàn người “Thằng Tấn! Mày bỏ cái xẻng xuống ngay cho tao!”
Tiếng quát trầm đục, run rẩy vì phẫn nộ nhưng vang dội khác thường giữa cánh đồng vắng.Cụ Hằng quay đầu nhìn lại. Người vừa lội nước bước tới là Trần Hữu Phước. Lão nông sáu mươi hai tuổi gầy guộc, lưng hơi còng, kẻ thường ngày chỉ biết ngồi thu mình hút thuốc rê và lẩn tránh mọi ánh mắt của xóm giềng, lúc này đang sấn bước tới. Nước lũ ngập đến bụng làm chiếc áo bà ba màu bùn của ông nặng trịch, nhưng từng bước chân dậm xuống lại dứt khoát lạ thường.
Tấn khựng phắt tay xẻng lại giữa không trung, trố mắt nhìn người hàng xóm phía Tây “Ông Phước? Việc của bờ Đông nhà tui với bà Hằng, mắc mớ gì tới ông mà ông xía vô?”
“Tao không xía vô để mày ăn cướp công sức mồ hôi của người đã khuất hả thằng Tấn?” Ông Phước th* d*c, hai bàn tay chai sạn nắm chặt lại thành nắm đấm. Ông đứng chắn ngang giữa Tấn và cụm sen trắng, hướng ánh mắt đầy day dứt nhìn cụ Hằng một thoáng rồi quay sang cán bộ Sơn và Trưởng ấp Tư Bình “Thưa chú cán bộ, thưa chú Tư Bình và bà con lối xóm... Tui xin đứng ra làm chứng. Chị Hằng nói không sai một ly một tấc nào hết.”
Cả vạt đồng lặng ngắt. Chỉ còn tiếng gió chướng rít qua rặng trâm bầu xao xác. Cụ Hằng nắm chặt bàn tay Minh Đăng, lòng dâng lên niềm cảm thông sâu xa cho người hàng xóm đã cắn răng giấu kín sự thật suốt bao ngày qua.
Ông Phước hít một hơi dài, đưa cánh tay gầy guộc chỉ xuống vạt nước dưới chân cụ Hằng “Mùa lũ lớn năm 1976, cách đây tròn hai mươi năm, chính mắt tui thấy và chính tay tui đã phụ anh Hứa Văn Lộc vót cọc tràm già cắm xuống chỗ này. Hồi đó mới sau ngày hòa bình giải phóng, anh Lộc sợ nước lũ hàng năm dâng cao xé toạc bờ đất làm mất dấu ranh giới xóm giềng, nên rủ tui lội ra mé lung đốn tràm già lõi đỏ. Mấy cọc tràm đó vót nhọn đầu, đóng sâu ba tấc dưới lớp bùn đáy theo hình cũi bốn cạnh để ém giữ rễ củ sen trắng không cho trôi dạt. Lúc đẽo cọc, anh Lộc dặn tui: ‘Đất đai là của chung ông trời cho, mình giữ cái ranh để con cháu sau này khỏi sinh lòng tham mà cắn xé lẫn nhau’.”
Nghe đến đó, Tấn giật nảy mình, sắc mặt đỏ gắt chuyển dần sang tái nhợt “Ông... ông già rồi lẩm cẩm, nhớ bậy nhớ bạ rồi hùa theo nhà bà Hằng để hại tui!”
“Tao lẩm cẩm hả?” Ông Phước cười chua chát, ánh mắt bỗng rực lên vẻ kiên định. Ông xoay người, vung cánh tay gầy guộc chỉ thẳng tắp về phía ranh đất mé bờ Tây, nơi có mô đất ngập nước mọc bụi trâm bầu còi giáp ranh giữa ruộng nhà ông và ruộng sen cụ Hằng “Mày nói tao hùa theo chị Hằng, vậy mày ngó qua mé Tây ruộng tao đi! Bên đó, ngay bụi trâm bầu còi ngập nước, anh Lộc với tao cũng đóng bốn cọc tràm già hình chữ thập dưới bùn sâu ba tấc để giữ bồn rễ cho một cụm sen tím làm mốc ranh giới hai nhà! Hai mươi năm nay tao cày cấy, chưa bao giờ tao dám lấn qua khỏi cọng sen tím đó nửa bước! Chú cán bộ cứ giở cuốn sổ bọc vải dầu của anh Lộc ra coi, có phải trong đó vẽ y chang cụm sen tím với cọc chữ thập bên mé Tây nhà tui không!”
Cán bộ Sơn lập tức lật nhanh trang giấy ố vàng trong cuốn sổ bọc vải dầu kẹp trên bảng gỗ. Trước mắt mọi người, hình vẽ bụi trâm bầu còi cùng bốn chấm mực son hình chữ thập ém giữ bông sen tím bên bờ Tây hiện lên rõ mồn một, khớp khít từng chi tiết với lời khai rành rẽ của ông Phước.
Tiếng xì xào của bà con đứng trên bờ đê bỗng rộ lên xôn xao. Thím Bảy vỗ đùi đánh đét một cái, cất giọng sang sảng “Trời đất ngó xuống mà coi! Người xưa tính toán giữ đất giữ ranh tới mức đó, rành rành ra đó rồi chú Tấn ơi!”
Nguyễn Văn Tấn đứng chết trân giữa làn nước bạc. Chiếc xẻng sắt trĩu nặng trên tay gã từ từ hạ xuống mép nước, mặt gã tái mét không còn giọt máu. Đôi môi gã mấp máy định cãi lại nhưng cổ họng nghẹn ứ, không thốt nổi một lời nào trước sự thật phơi bày tr*n tr** giữa thanh thiên bạch nhật.
Cán bộ Sơn gấp tập biên bản lại, ánh mắt nghiêm nghị quét qua từng người trong xóm rồi dừng lại ở vạt sen trắng “Chứng cứ và nhân chứng đã quá rõ ràng. Bây giờ, tôi yêu cầu đại diện năm hộ và Trưởng ấp cùng lội bùn xuống đây, chúng ta mò tay xuống đáy nước kiểm tra tận mắt đầu cọc tràm ngầm!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
