Chương 14: Nén Nhang Trước Ngày Ra đồng

Mũi xẻng sắt loáng ướt cắm phập xuống mép bờ đất sũng nước, bùn non bắn tung tóe lên vạt cỏ. Nguyễn Văn Tấn nhảy tót lên bờ đê, hai mắt vằn tia đỏ rực, bàn tay hộ pháp siết chặt cán gỗ "Bà Hằng! Chiều nay tao tới đây mần cho ra ngô ra khoai! Bờ bao sạt lở đè lúa nhà tao hư hại cả nửa công, đất đai thì dở dở ương ương. Mấy thằng cha thị trấn đang đợi cọc, bữa nay bà không chịu lùi ranh một tầm sào thì tụi tao xắn đất đắp luôn theo mí nước tràn, khỏi đợi xã ấp gì hết!"

Ba gã lực lưỡng phía sau lập tức vác cọc tre dộng thình thịch xuống đất, nước váng phèn bắn toé lên mấy bụi bình bát. Minh Đăng hoảng hốt nép vội vào sau vạt áo bà nội, hai bàn tay túm chặt mép vải sờn.

Cụ Hằng đứng yên nơi bậc thềm đá rửa, hai bàn chân bấm chặt xuống nền đất lạnh. Gió chướng thổi thốc qua rặng bần làm vạt áo bà ba đen bay phần phật, nhưng dáng người bà vẫn thẳng thớm như cây tràm cắm giữa mùa bão nổi. Ánh mắt cụ già tám mươi tám tuổi lạnh tanh, nhìn thẳng vào gương mặt bừng bừng sát khí của gã hàng xóm "Thằng Tấn! Mày tính cậy đông kéo người tới dỡ nhà tao hay sao mà vác xẻng hò hét? Cán bộ Sơn của xã vừa bước chân khỏi cái ngõ này, giấy triệu tập đo đạc khẩn cấp đã ký rành rành. Sáng sớm mai, cả chú Tư Bình lẫn năm hộ tụ họp ngoài đồng có chính quyền chứng kiến. Đất đai mồ hôi của ông cha mày với ông Lộc gầy dựng hai chục năm qua, chớ đâu phải cái bánh lá mà mày muốn xắn xẻ bán cho thương lái cá lóc là xắn? Bước lui ra khỏi cái ranh đất nhà tao, đợi sáng mai bùn đất lên tiếng!"

Cán bộ xã Nguyễn Văn Sơn từ mé rạch quay ngoắt lại, chiếc cặp da sờn mép kẹp chặt bên sườn, giọng nói đanh thép cất lên "Anh Tấn! Giấy mời khẩn cấp tôi cầm trên tay đây, sáng mai đích thân tôi và anh Tư Bình chủ trì đo đạc thực địa. Mọi hành vi xâm phạm ranh giới, tự ý xắn đất trước giờ kiểm tra đều bị lập biên bản xử lý nghiêm. Anh đưa người quay vỏ lãi về ngay!"

Nghe tiếng người đại diện chính quyền xã, mấy gã vác cọc tre ngơ ngác nhìn nhau rồi chùn bước. Tấn bặm môi, hằn học nhổ toẹt bãi nước bọt xuống dòng nước đục ngầu, hất mũi xẻng lên vai "Được! Nể mặt chú cán bộ, sáng mai tao ra đồng coi thử cái ngữ bà già gần đất xa trời với đứa con nít ranh chỉ trỏ được cái mốc khỉ mốc vượn gì!"

Chiếc vỏ lãi nổ máy giòn giã rồi quay mũi phóng ngược về phía đầu kênh xáng, để lại từng dợt sóng phù sa cuộn tròn đánh đập dềnh vào chân đê.

Hoàng hôn buông xuống nhanh như một cái chớp mắt. Nền trời phía thượng nguồn đỏ quạch như váng phèn, trút xuống mặt nước bao la một màu ánh đồng mờ mịt. Cụ Hằng bước chậm rãi vào nhà, khép hờ cánh cửa liếp chắn gió. Ngôi nhà lá chìm vào sự yên tĩnh trang nghiêm, chỉ còn mùi khói un muỗi thoang thoảng ngoài chái bếp.

Bà đi tới trước bàn thờ gỗ mít, so lại mép vải điều phủ trên bài vị. Cụ vói tay lấy bao nhang trầm cất kỹ trong ống tre, bật que diêm thổi nhẹ. Ngọn lửa vàng le lói bùng lên, soi rõ những nếp nhăn chằng chịt cùng đốm đồi mồi trên gò má bà. Cụ Hằng kính cẩn cắm ba nén nhang thẳng thớm vào bát sành đầy tro trấu, chắp hai bàn tay gầy guộc ngang trán. Khói nhang màu lam uốn lượn từng vòng mỏng mảnh, tỏa mùi thơm ấm nồng át đi cái ngai ngái của nước lũ "Ông Lộc ơi... Bảy năm ông nằm xuống dưới gò tràm, nước năm nay dâng cao quá chừng. Bờ bao đất thịt ngày xưa ông đắp bị xé toạc, lòng người ngoài xóm cũng theo con nước mà chia rẽ, toan tính bán đất cho đầm cá thị trấn. Thằng Đăng nhà mình nó tìm ra cuốn sổ tay với cọc tràm bồn rễ của ông rồi. Sớm mai hai bà cháu tui dắt nhau ra đồng đối chất trước mặt xóm giềng với chính quyền xã. Xin ông cùng ông bà tổ tiên linh thiêng ngó xuống, phù hộ cho đứa cháu nội giữ trọn từng tấc đất hương hỏa, đừng để mồ hôi của người xưa bị con nước bạc cuốn trôi..."

Cụ Hằng cúi đầu lạy ba lạy, trán chạm nhẹ vào mép bàn gỗ.Xong tuần nhang, bà quay lại bộ ván gõ, kéo cối trầu đồng thau ra têm một miếng trầu cay. Cụ không giã dập như mọi bận mà chỉ dùng dao têm gọt nhẹ lớp vỏ cau, cử chỉ chậm rãi, thong thả đến lạ lùng. Suốt mấy mươi năm qua, từ ngày con cái phiêu bạt ngược xuôi rồi người chồng khuất núi, bà luôn giấu mình trong cái vỏ bọc khô khốc, cặm cụi thu vén ba mẫu hai công ruộng sen trong câm lặng. Có những lúc bà thấy mình già nua, tàn tạ như một chiếc lá sen khô gãy gục giữa đầm ngập, chẳng thể nào che chở nổi cho đứa cháu côi cút. Nhưng lúc này đây, nhìn ngọn lửa nhang đang đỏ đều trên bàn thờ, mọi nỗi ngần ngại, mặc cảm bấy lâu tan biến sạch trơn.

Ở góc ván bên kia, Minh Đăng đang ngồi bó gối, hí hoáy mài lại đầu mẩu than củi trên một mảnh ngói vỡ. Bụi than đen nhánh rơi lả tả xuống sàn gỗ. Thằng bé chốc chốc lại cúi xuống thổi phù phù, cẩn thận nâng niu tấm bìa cáctông thùng mì gói vẽ sơ đồ năm cụm sen trắng và dải sen tím bờ Tây. Khuôn mặt nó lấm lem vệt đen, đôi môi mím chặt, đôi mắt trong veo lấp lánh phản chiếu ánh đèn dầu le lói.

Cụ Hằng lặng lẽ nhìn đứa cháu nội. Đôi vai nó gầy nhẳng, mặc chiếc áo bà ba xanh rộng thùng thình của cha để lại. Mới chín tuổi đầu, mất cha mất mẹ, vậy mà đôi bàn tay kia đã biết dùng sào tre lội nước, biết phân biệt từng phiến lá sen lượn sóng không gai nhám, lại còn ghi nhớ từng đầu cọc ngầm cắm sâu ba tấc bùn từ hai mươi năm trước. Dòng máu của ông Hứa Văn Lộc, cái nết bám đất bám đồng cần lao của họ Hứa đâu có mất đi, nó đang cuộn chảy rành rọt trong hình hài nhỏ thó này.

Bà đứng dậy, bước chầm chậm về phía chiếc rương gỗ mít ở góc buồng. Bàn tay khô ráp lần giở mớ mùng mền cũ, lấy ra chiếc khăn rằn Nam Bộ đã ngả màu cháo lòng, mép viền sờn chỉ nhưng được giặt giũ thơm mùi nắng cũ. Đó là chiếc khăn rằn ông Lộc hay vắt vai mỗi lần cùng dân xóm ra đồng be bờ, đắp đập thuở hàn vi.

Cụ Hằng bước lại gần Đăng, đưa tay nhẹ nhàng gạt mớ tóc húi cua lởm chởm vương bụi than trên trán cháu. Đăng giật mình ngước lên "Bà..."

Bà không nói, cẩn thận quàng dải khăn rằn qua cổ thằng bé, kéo hai vạt khăn so cho thật bằng nhau trước ngực nó. Hơi ấm và mùi vải thân thuộc phả vào da thịt khiến Đăng mở to đôi mắt, đứng thẳng người lên. Cụ Hằng đặt hai bàn tay thô ráp lên đôi vai nhỏ nhắn của cháu nội, giọng nói trầm đục, từng lời từng chữ cất lên rành rọt như đóng đinh vào không gian "Thằng Đăng, mày nghe bà dặn đây. Chiếc khăn rằn này là của ông nội mày để lại. Ngày mai bước chân ra đồng, trước mặt bà con chòm xóm với cán bộ xã, mày không được sợ hãi rụt rè nữa. Mày là cháu đích tôn của ông Hứa Văn Lộc. Từng cọng sen, từng đầu cọc tràm dưới đáy bùn kia là mồ hôi, là xương máu của ông nội mày gầy dựng để nuôi sống cả nhà. Ngày mai, mày chính là người dẫn đường giữ đất cho dòng họ Hứa mình. Nhớ kỹ chưa con?"

Đăng nuốt một ngụm nước miếng, ngực nó phập phồng dưới lớp vải khăn rằn. Nỗi nhút nhát thường ngày dường như tan biến đâu mất, nó đưa hai bàn tay đen nhẻm nắm lấy mu bàn tay nhăn nheo của bà, gật đầu thật mạnh "Dạ, con nhớ rồi bà! Ngày mai con cầm sào dẫn đường, con không sợ chú Tấn quát nữa đâu!"

Bà Hằng khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi làm giãn những vết chân chim nơi khóe mắt.

Đêm về khuya, bốn bề Tân Bình Thạnh chìm sâu vào màn sương nước lạnh buốt. Tiếng gió chướng rít qua khe liếp từng chặp dài, mang theo hơi nước phù sa ẩm ướt. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng bãi lúc bổng lúc trầm. Minh Đăng đã ngủ say từ lúc nào, hai tay vẫn ôm khư khư tấm bìa cáctông vẽ than củi trước bụng, hơi thở đều đặn và bình yên.

Cụ Hằng vẫn ngồi thức bên mép chõng tre. Đôi mắt già nua nhìn xuyên qua khe cửa liếp, lắng nghe tiếng nước lũ từ sông Vàm Cỏ đổ về cuồn cuộn ngoài bờ bao sạt lở. Con nước năm nay hung dữ quá, chực chờ nuốt chửng lấy bờ cõi xóm làng. Bà cúi xuống, khẽ đưa những ngón tay gầy guộc v**t v* mái tóc húi cua của đứa cháu nội. Mọi hy vọng, mọi sự chở che và niềm tin cuối cùng của đời bà, giờ đây đặt trọn vẹn nơi bờ vai của đứa trẻ chín tuổi này.

Ngọn đèn dầu hạt đỗ trên vách nứa bập bùng soi bóng hai bà cháu, ngoài đồng xa một tiếng sạt lở đất trầm đục vang lên trong màn đêm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.