Chương 6: Đêm Dông Nghiêng Nhịp Cầu
Ánh chớp bạc vừa rạch ngang vòm trời, tiếng sấm đanh giòn đã dội xuống đáy Lục Đầu Giang như muốn xé toạc mặt nước. Gió bấc thốc ngược từ cửa biển dâng lên cuồn cuộn, kéo theo màn mưa nặng hạt trút xối xả xuống mái ngói vảy rồng Thất Diệu Kiều. Bọt nước quất rát rạt vào mặt, hơi lạnh thấu buốt luồn qua từng kẽ áo tơi, nhưng cụ Thiều Thục Chi vẫn đứng sừng sững nơi sàn cầu, tay nâng cao chiếc đèn bão bọc giấy dầu tỏa ra quầng sáng vàng vọt kiên định giữa cơn cuồng nộ của trời đất.
Dưới chân mố số ba, tám thân gỗ táu ngâm bùn vừa kéo về đã được đám thợ lặn neo chặt bằng chão da trâu vào chân đá tảng. Cụ Thiều nhìn bóng lưng Văn Mộc đang trèo lên sàn cầu, bả vai còn rỉ một vệt máu đỏ thẫm do mũi giáo sắt của quân tuần sượt qua, lòng quặn thắt nhưng giọng lão cất lên vẫn sang sảng, dứt khoát “Mộc! Dẫn Thao với Dũng lên gác mái ngay! Đem bạt gai và rơm bện chằng néo từng chồng ngói vảy rồng lại! Gió quẩn đầu hồi rất độc, chớ để bay mất một viên ngói nào!”
Tiếng hô của lão thợ cả tám mươi tuổi tựa như chiếc đinh neo giữ lấy tinh thần của ba mươi sáu tay thợ đang nháo nhác. Đặng Văn Mộc chẳng màng vết thương buốt nhức, quệt vội nước mưa trên trán rồi giơ cao chiếc vồ gỗ giục nhóm thợ trẻ tản ra các gian, căng dây ghìm chặt những kiện ngói dự phòng và kiểm tra từng hàng con bọ, câu đầu. Dưới lòng cầu, hàng chục tiểu thương, phu đò nghèo cùng đàn bà con trẻ ven bến đang co cụm lại, nép sát vào dải ghế gỗ lim tránh mưa gió, run rẩy lắng nghe tiếng nước réo ầm ầm dưới gầm sàn.
Bỗng nhiên, giữa một đợt sấm rền vang trời lấp kín không gian, từ phía lòng sông tối om dưới mố phụ số hai vọng lên một chuỗi âm thanh kim loại cọ xát ken két ghê rợn, nối tiếp bằng tiếng cạy đục gấp gáp. Cụ Thiều giật thót mình, tai lão giật liên hồi. Đó không phải tiếng sóng vỗ vào đá mố! Đó là tiếng sắt thép th*c m*nh vào thớ gỗ!
“Răng rắc!”
Một tiếng gãy vỡ khô khốc, xé lòng đột ngột vang lên từ đáy sông, tựa như tiếng một khớp xương khổng lồ bị vặn gãy lìa. Ngay khoảnh khắc ấy, mặt sàn Thất Diệu Kiều dưới chân cụ Thiều khẽ chao đảo. Nhịp cầu thứ hai xuôi về phía hạ lưu bỗng nhiên sụt xuống chừng nửa tấc, nghiêng hẳn sang mạn đông bắc.
Cả thân cầu rung bần bật, hệ thống vì kèo ken dày phát ra những tiếng cọt kẹt rợn người do lực phân bổ bị gián đoạn đột ngột. Mấy sạp hàng rong trượt dài trên mặt sàn gỗ, bát đĩa đất nung rơi loảng xoảng vỡ tan tành. Đám đàn bà con trẻ thét lên kinh hãi “Sập cầu rồi! Cầu ngói gãy rồi bà con ơi!”
“Chạy mau! Cầu sụt rồi!”
Đám đông hoảng loạn xô đẩy nhau toan dẫm đạp chạy túa ra hai đầu bến, trong khi mưa gió bên ngoài vẫn gầm rú như muốn nuốt chửng tất cả.
“Đứng yên cả lại!”
Tiếng thét đanh thép của cụ Thiều Thục Chi vang lên át cả tiếng gầm của dông gió. Cụ dằn mạnh cây gậy lim xuống mặt sàn gỗ gõ thành từng nhịp chát chúa, ánh mắt quắc thước rực sáng dưới quầng đèn dầu “Thất Diệu Kiều dựng theo phép thượng gia hạ kiều, bảy gian khóa liền một dải, kèo này gánh cho xà kia! Mới sụt một góc mố phụ, đứt một then giằng, chưa thể đổ được! Đứa nào chạy loạn giẫm đạp lên nhau rơi xuống xoáy nước Lục Đầu Giang thì đừng trách bà già này không cứu!”
Uy lực của lão thợ cả bát tuần lập tức ghìm chặt bước chân của hàng trăm con người. Đám đông sững lại, nín thở nhìn theo bóng dáng quắt queo nhưng vững như bàn thạch của cụ. Cụ Thiều không hề do dự, lão chống gậy, một mình bước thoăn thoắt ra sát mép sàn đang chao nghiêng nơi nhịp cầu số hai.
Cúi sát ngọn đèn bão qua chấn song nhìn xuống mặt nước đen ngòm đang sủi bọt cuộn xoáy, cụ Thiều nhìn thấy rõ một bóng đen đang vội vã ngoi lên từ chân cột cái mố phụ, tay ôm theo một chiếc đòn then dài năm thước rồi nhanh chóng lặn mất tăm về phía hạ lưu bến Tam Phù. Dưới chân cột, chiếc then giằng chịu lực bằng gỗ lim già đã bị cưa sắt xẻ cụt hai đầu mộng mang cá, khiến chân cột mất điểm tựa, trượt khỏi lòng máng đá xanh.
“Khốn kiếp! Đúng là ngón đòn bẩn thỉu của Ba Trĩ!” Cụ Thiều nghiến răng, lồng ngực phập phồng căm phẫn. Nhưng lão không có lấy một khắc để chần chừ. Lực ép của cả mái ngói bên trên đang dồn hết sang mố số ba, nếu không giằng giữ tức khắc, sóng lũ tràn về sẽ xé toạc toàn bộ mộng liên hoàn.“Mộc đâu! Đem ngay ba cây xà nách gỗ táu lại đây!” Cụ Thiều quát lớn.
“Có con!”
Đặng Văn Mộc cùng bốn tay thợ lực lưỡng lập tức khiêng những thân gỗ táu nặng trịch lao đến mép sàn nghiêng. Thân hình vạm vỡ của Mộc ướt đẫm nước mưa và máu, nhưng đôi mắt sáng quắc như sao đêm.
“Nghe lão dặn đây!” Cụ Thiều chỉ tay vào thế giằng đang r*n r* dưới chân: “Thả hai đầu chão lớn vòng qua bụng dầm ngang, ghìm chặt vào mỏm đá xanh nhô ra ngoài ghềnh. Mộc, con dùng đòn bẩy xà nách chêm chết vào nách cột cái, khóa chéo theo thế mộng chân chó! Bốn người kia dùng vồ gỗ nghiến gõ dồn vào nêm tạm! Nhanh!”
“Tuân lệnh Cụ Cả!”
Văn Mộc gầm lên một tiếng, luồn người qua chấn song, hai chân quặp chặt vào mố đá trơn trượt giữa bọt sóng điên cuồng, hai tay ghìm chặt thân xà nách táu chêm thẳng vào khớp mộng đang rạn toạc. Ba mươi sáu tay thợ xóm Ngói lập tức vào vị trí, tiếng búa vồ nện chan chát xuống những chiếc nêm gỗ táu vang rền cả mặt sông. Dưới sự chỉ huy chuẩn xác từng phân từng tấc của cụ Thiều, thế giằng tạm thời căng ra như dây cung, giữ chặt chân cột cái vào thành mố đá. Tiếng cót két ghê rợn nhỏ dần rồi tắt hẳn. Nhịp cầu hạ lưu ngừng chao nghiêng, đứng vững sững sững giữa làn mưa gió mịt mùng. Hàng trăm người dân trên cầu đồng loạt thở phào, ứa nước mắt vì thoát khỏi miệng tử thần.
Trời vừa le lói tảng sáng, mưa dông ngớt hạt, để lại mặt sông Lục Đầu cuồn cuộn một màu phù sa đỏ ngầu hung dữ.
Chưa kịp để dân làng thu dọn đống đổ nát, tiếng chiêng đồng cùng tiếng la hét trịch thượng đã rầm rộ kéo đến từ phía bờ tây. Tân tri huyện Hoàng Bá Khang đầu đội mũ cánh chuồn, khoác áo lam sam bằng gấm bọc da thú cưỡi trên lưng ngựa, dẫn theo hơn ba mươi tên sai nha lăm lăm xà beng, búa tạ và xiềng xích sắt nghênh ngang ập lên sàn cầu.
Hoàng Bá Khang đảo cặp mắt hí giảo quyệt nhìn nhịp cầu số hai còn hơi lệch mộng, khóe môi hắn nhếch lên một nụ cười đắc ý tột cùng. Hắn giật phắt dây cương, chỉ roi ngựa vào mặt cụ Thiều đang đứng tựa vào cột cái “Thiều thị! Hôm qua bổn huyện đã cảnh cáo trước, các ngươi không nghe! Đêm qua dông bão mới nổi lên một khắc, Thất Diệu Kiều đã tự chao nghiêng sụt mố, rường cột lung lay đe dọa sinh mạng bách tính! Thứ cầu mục nát cản trở dòng chảy thế này, nếu để lũ lớn tràn về ắt làm vỡ đê quai, hại chết vạn mạng dân lành!”
Tên đầu mục sai nha lập tức giương trát lệnh có triện đỏ của huyện đường, gầm giọng mị dân “Quan phụ mẫu thương dân như con! Nay cầu đã hỏng, lệnh phá dỡ mười ngày ban đầu hủy bỏ! Bổn huyện rút gắt thời hạn xuống đúng năm ngày! Kể từ sáng nay, đúng năm ngày sau, nếu xóm Ngói không tự tay dỡ sạch thân cầu ngói, nha môn sẽ cho binh đinh châm lửa thiêu rụi toàn bộ, kẻ nào cản trở coi như nghịch mệnh triều đình, tru diệt không tha!”
Đám tiểu thương và thợ bạn nghe vậy mặt mày cắt không còn giọt máu, phẫn uất nhưng run sợ trước uy quyền của quan lại.
Đúng lúc ấy, nơi mép nước bến cầu dạt vào một khúc then gỗ lim bị cưa cụt hai đầu mộng, trên thân gỗ còn găm lờ mờ một chiếc đinh sắt rỉ sét do bàn tay kẻ gian để lại. Nhìn vết tích cưa đứt nham nhở ấy, rồi nhìn nụ cười nham hiểm của viên tri huyện đang dương dương tự đắc, cụ Thiều Thục Chi chẳng hề lùi nửa bước.
Lão thợ cả bát tuần ưỡn thẳng tấm lưng gầy guộc như rường cột lim già, bàn tay nổi gân chai sần siết chặt lấy chiếc gậy lim nhẵn bóng trong tay. Đôi mắt cụ sáng quắc, rực lên ngọn lửa đanh thép của một đời bách nghệ “Hoàng tri huyện chớ vội mở cờ trong bụng! Then gãy thì đục mộng mới, mố lệch thì dựng lại giằng! Năm ngày ư? Đối với phường thợ mộc xóm Ngói này, năm ngày là quá đủ để chúng ta khóa chặt mộng lục giác, giữ trọn vẹn từng tấc gỗ ngói của Thất Diệu Kiều!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
